Khám phá sở thích, cùng nhau

Deal thật, đánh giá chân thực và câu chuyện mua sắm từ những người cùng sở thích với bạn — mỗi ngày trên Sammfy.

Khám phá sở thích, cùng nhauDeal thật, đánh giá chân thực và câu chuyện mua sắm từ những người cùng sở thích với bạn — mỗi ngày trên Sammfy.

Bộ GD-ĐT đề xuất danh mục ngành nghề đào tạo đặc thù

Bộ GD-ĐT đề xuất danh mục ngành nghề đào tạo đặc thù
Sở thích|Tập luyện tổng hợp

Danh mục đặc thù cần tiêu chí rõ ràng

Ngành, nghề đào tạo nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm là những chương trình mà trong quá trình học, người học trực tiếp thực hành công việc thuộc diện rủi ro theo quy định và tiếp xúc đáng kể với yếu tố nguy hiểm hoặc có hại. Đây không nên là nhãn gắn theo tên nghề; tiêu chí phải phản ánh đúng mức độ thực hành và rủi ro mà người học đối mặt.

Ngày 26/10/2026, Bộ GD-ĐT công bố dự thảo thông tư để lấy ý kiến, đề xuất danh mục ngành, nghề đào tạo nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm cùng danh mục ngành nghề khó tuyển sinh nhưng xã hội có nhu cầu. Dự thảo Bộ GD-ĐT bao quát trình độ cao đẳng, trung cấp, giáo dục trung học nghề và sơ cấp đối với nhóm nghề nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; nhóm khó tuyển sinh được nêu ở trình độ cao đẳng và trung cấp.

Điểm đáng chú ý là đề xuất phân biệt điều kiện đào tạo đặc thù bằng mức độ và thời lượng thực hành, thay vì chỉ dựa vào nhận định chung về một ngành nghề đào tạo. Cách tiếp cận này giúp danh mục có cơ sở kiểm chứng và hạn chế việc xếp loại tùy tiện.

Bộ GD-ĐT đề xuất danh mục ngành nghề đào tạo đặc thù

Ngưỡng thực hành là căn cứ cốt lõi

Theo dự thảo, tổng thời gian người học trực tiếp thực hành công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm phải chiếm ít nhất 50% tổng thời gian thực hành của chương trình; nếu là công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, ngưỡng được đề xuất là 30%. Đây là những mốc đủ cụ thể để cơ sở đào tạo đối chiếu chương trình, nhưng cũng đòi hỏi việc ghi nhận thời lượng và tính chất thực hành phải minh bạch.

Dự thảo vẫn mở đường xem xét trường hợp chưa đạt tỷ lệ trên nếu quá trình thực hành có yếu tố nguy hiểm, độc hại ở mức cao và nguy cơ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, an toàn người học. Khi đó, việc đánh giá cần dựa vào mức độ rủi ro và đặc thù ngành, nghề. Quy định này hợp lý: một tỷ lệ cứng không nên khiến rủi ro nghiêm trọng bị bỏ qua.

Với nghề đào tạo độc hại, điều quan trọng không chỉ là tên gọi mà còn là mức độ tiếp xúc thực tế trong chương trình. Tiêu chí định lượng tạo khung thống nhất; cơ chế đánh giá rủi ro bổ sung giúp xử lý những trường hợp khó quy về một con số.

Ngành khó tuyển nhưng vẫn cần nhân lực

Danh mục thứ hai nhắm tới ngành, nghề có nhu cầu nhân lực hiện tại hoặc tương lai để phục vụ phát triển kinh tế - xã hội nhưng khó thu hút người học. Dự thảo xem xét cả tỷ lệ tuyển sinh thực tế thấp so với chỉ tiêu phù hợp năng lực đào tạo và nhu cầu nhân lực, lẫn tình trạng quy mô tuyển sinh giảm liên tục, không đáp ứng nhu cầu thị trường lao động trong ba năm liền.

Đưa ngành nghề khó tuyển sinh vào cùng một thông tư với nghề có điều kiện thực hành nguy hiểm cho thấy dự thảo đang xử lý hai vấn đề khác nhau: rủi ro trong quá trình học và khoảng cách giữa lựa chọn của người học với nhu cầu nhân lực. Việc có danh mục riêng giúp phân biệt rõ lý do một chương trình được xem là đặc thù, thay vì gom mọi khó khăn tuyển sinh vào một nhóm.

Tuy vậy, danh mục cần phản ánh nhu cầu có căn cứ chứ không chỉ dựa vào số tuyển sinh thấp. Ngưỡng ba năm liên tiếp là tín hiệu có ích để tránh phản ứng trước biến động ngắn hạn, nhưng việc xác định nhu cầu nhân lực vẫn cần được xem xét cùng năng lực đào tạo và thị trường lao động.

Danh mục cần được rà soát định kỳ

Bộ GD-ĐT đề xuất sửa đổi, bổ sung cả hai danh mục định kỳ ít nhất một lần trong năm năm. Đây là khoảng rà soát cần thiết vì mức độ rủi ro trong thực hành và nhu cầu tuyển dụng có thể thay đổi theo ngành nghề, công nghệ và thị trường. Danh mục nếu giữ nguyên quá lâu sẽ khó còn phản ánh đúng điều kiện đào tạo.

Hiện đây vẫn là dự thảo lấy ý kiến, chưa phải danh mục đã ban hành. Trọng tâm góp ý nên là tính khả thi của các ngưỡng thực hành, cách đánh giá rủi ro ngoài tỷ lệ định lượng và căn cứ xác định ngành khó tuyển nhưng xã hội cần. Những điểm này quyết định danh mục có thể dùng nhất quán hay trở thành một thủ tục hình thức.

Kết luận, đề xuất có giá trị ở chỗ đặt hai nhóm ngành nghề đào tạo đặc thù vào một khuôn khổ có tiêu chí và chu kỳ cập nhật. Nếu khâu thẩm định dựa trên dữ liệu và rủi ro thực tế, danh mục sẽ vừa nhận diện đúng nghề nguy hiểm, vừa làm rõ những ngành cần người nhưng khó thu hút người học.

Sammfy nhận hoa hồng khi bạn mua sắm qua liên kết của chúng tôi, bạn không phải trả thêm chi phí.

You May Also Like

Comments
Viết gì đó...
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên chia sẻ suy nghĩ!