Di sản chỉ sống khi có người thực hành
Giáo dục di sản là cách nhà trường đưa tri thức, thực hành và giá trị văn hóa của cộng đồng vào việc học, để học sinh không chỉ biết về quá khứ mà còn có thể tiếp nối di sản trong đời sống. Đây là hướng đi cần thiết khi khoảng cách giữa thế hệ trẻ với các sinh hoạt truyền thống ngày càng lớn. Gia Lai còn lưu giữ khoảng 5.000 bộ cồng chiêng, nhưng nhiều già làng, nghệ nhân đã cao tuổi, trong khi nhịp sống hiện đại kéo thanh niên xa dần lễ hội. Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên được UNESCO công nhận là kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể của nhân loại năm 2005, rồi ghi danh vào danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại năm 2008; danh hiệu ấy càng làm rõ trách nhiệm trao truyền. Đưa di sản trong trường học vì thế không phải phần trang trí cho ngày hội, mà là cách tạo thêm người biết đánh, hiểu và quý tiếng chiêng.
Ở Gia Lai, câu lạc bộ biến tiếng chiêng thành thực hành
Tại Trường phổ thông Dân tộc nội trú THPT số 2 ở Gia Lai, câu lạc bộ âm nhạc quy tụ học sinh thuộc 12 dân tộc và hướng tới sưu tầm, bảo tồn, phát huy cồng chiêng, dân ca, xoang, đàn T’rưng, Goong. Hiệu trưởng Nguyễn Văn Tàu xem đây vừa là sân chơi lành mạnh, vừa là nơi phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu. Người giữ lửa là thầy Hiao Kuan, giáo viên hóa học đã gắn bó với trường 27 năm, vừa dạy chữ vừa dạy chiêng. Cách học này có sức thuyết phục vì tiếng chiêng không nằm yên trong sách: học sinh tập, biểu diễn và giao lưu. Ở Trường phổ thông Dân tộc nội trú THCS Đăk Đoa, 144 học sinh, khoảng hai phần ba là người Ba Na, tập cồng chiêng sáng thứ hai và thứ năm hằng tuần; trường còn mời nghệ nhân địa phương truyền dạy. Một học sinh Ba Na nói em tự hào khi biểu diễn và lo con cháu sau này không còn biết tiếng chiêng.
Văn hóa Mường bước vào lớp học và trải nghiệm
Ở Trường THCS Mường Bi, văn hóa Mường không chỉ xuất hiện trong ngày hội. Giáo viên lồng ghép nội dung phù hợp vào Ngữ văn, Lịch sử và Âm nhạc, rồi mở rộng việc học qua ngoại khóa, câu lạc bộ và giao lưu với nghệ nhân. Trang phục, hoa văn, dân ca, điệu múa và tiếng cồng chiêng trở thành chất liệu để học sinh quan sát, đặt câu hỏi, thực hành và chia sẻ. Phụ huynh cùng chuẩn bị trang phục truyền thống, nối không gian trường học với gia đình; nghệ nhân đem đến kinh nghiệm và cách thực hành mà bài vở khó truyền tải trọn vẹn. Theo hiệu trưởng Hoàng Thị Thu Hương, mục tiêu là để học sinh trực tiếp nhìn, mặc, nghe và tham gia vào văn hóa quê hương. Lợi ích không dừng ở hiểu biết bản sắc: hoạt động tập thể rèn giao tiếp, phối hợp và trình bày, đồng thời bồi đắp tình yêu quê hương, trách nhiệm với cộng đồng. Đó là điểm mạnh của giáo dục di sản khi kiến thức được nối với trải nghiệm.

Không chỉ tổ chức một ngày hội: cần duy trì cơ hội
Hai cách làm bổ trợ cho nhau: câu lạc bộ ở trường nội trú tạo nhịp thực hành lặp lại, còn lồng ghép môn học và trải nghiệm giúp văn hóa địa phương đi vào nhiều tình huống học tập. Nhưng hoạt động chỉ có ý nghĩa nếu học sinh được tham gia thường xuyên, không phụ thuộc vào một buổi biểu diễn hay một điểm trường. Năm học 2026–2027, Trường THCS Mường Bi vận hành với trụ sở chính tại Phong Phú, hai phân hiệu ở Phú Cường và Địch Giáo, cùng điểm trường Mỹ Hòa; sự phân tán này đặt ra yêu cầu bảo đảm cơ hội trải nghiệm công bằng cho học sinh ở các cơ sở. Nhà trường định hướng duy trì câu lạc bộ gắn với bảo tồn văn hóa. Với cồng chiêng, những việc còn cần làm gồm tăng nghệ nhân tham gia giảng dạy, bổ sung kinh phí mua sắm và bảo quản, đồng thời tạo cơ hội để học sinh trình diễn trong lễ hội thực sự.
Kết luận, trao di sản cho học sinh không thể chỉ bằng lời nhắc phải tự hào về quê hương. Cần có người truyền dạy, thời gian thực hành và bài học gắn với đời sống cộng đồng. Khi nhà trường kết hợp câu lạc bộ, chương trình học và trải nghiệm địa phương, tiếng chiêng hay câu chuyện văn hóa Mường trở thành năng lực và trách nhiệm được vun đắp qua từng lần tham gia. Đó mới là cách để di sản tiếp tục hiện diện trong đời sống của thế hệ sau.







