Công nghệ chỉ có ý nghĩa khi cộng đồng còn làm chủ di sản
Chuyển đổi số văn hóa là việc sử dụng công nghệ để ghi chép, lưu giữ, truyền tải và phát huy giá trị văn hóa, với quyền quyết định và thực hành vẫn thuộc về cộng đồng nắm giữ di sản. Đây không phải cuộc chạy đua đưa mọi nghi lễ lên mạng, mà là cơ hội để người dân tiếp tục trao truyền văn hóa trong hoàn cảnh sinh kế, giao lưu và truyền thông đang đổi thay.
Ngày 22/10, một tọa đàm khoa học tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, bàn về biến đổi và giải pháp phát huy nguồn lực tín ngưỡng, tôn giáo trong cộng đồng dân tộc thiểu số ở trung du và miền núi phía Bắc. Đến chiều 26/10, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Lạng Sơn phối hợp với Viện Dân tộc học và Tôn giáo học tổ chức tọa đàm về phát huy văn hóa truyền thống gắn với chuyển đổi số. Hai cuộc trao đổi cùng đặt ra một câu hỏi lớn: công nghệ phục vụ sức sống văn hóa hay biến văn hóa thành thứ để tiêu thụ?
Sức ép là có thật. Kinh tế, di cư, chuyển đổi sinh kế, du lịch và truyền thông số đang làm đời sống tín ngưỡng chuyển động; một số thực hành được tiếp nối theo cách mới, số khác có nguy cơ đứt mạch trao truyền hoặc đổi nghĩa. Vì thế, số hóa chỉ đáng gọi là thành công khi giúp cộng đồng có thêm người kế tục, không gian thực hành và khả năng tự tái tạo văn hóa.
Khi nghi lễ thành nội dung trình diễn, ranh giới bị xóa nhòa
Đưa di sản lên nền tảng số có thể giúp nhiều người biết đến văn hóa dân tộc thiểu số, nhưng độ phủ không đồng nghĩa với bảo tồn. Nguy cơ xuất hiện khi một nghi lễ bị cắt thành tiết mục ngắn, tách khỏi bối cảnh và ý nghĩa tâm linh để chiều theo lịch trình du lịch hoặc nhu cầu xem nhanh. Khi ấy, hình thức có thể còn nguyên mà mối liên hệ sống động giữa nghi lễ với cộng đồng lại suy yếu.
Tại tọa đàm ngày 22/10, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Trường Giang nêu những câu hỏi cần được trả lời trước khi thương mại hóa nghi lễ hay tri thức bản địa: ai gìn giữ, ai quyết định, giá trị được duy trì thế nào và lợi ích thuộc về ai. Ông cũng lưu ý rằng không gian thiêng, tri thức nghi lễ và ký ức cộng đồng không phải lúc nào cũng phù hợp để chuyển thành sản phẩm du lịch hoặc dữ liệu công khai.
Đây không phải lời kêu gọi đóng cửa di sản. Đó là yêu cầu phân biệt giữa giới thiệu văn hóa với khai thác quá mức. Một cộng đồng cần có quyền từ chối ghi hình, giới hạn người xem hoặc giữ kín một phần tri thức; nếu thiếu quyền ấy, việc quảng bá có thể làm tăng lượt tiếp cận nhưng giảm quyền tự chủ.
Số hóa có trách nhiệm phải bắt đầu từ quyền lựa chọn
Nguyên tắc đầu tiên là để người thực hành quyết định nội dung nào được ghi lại, cách diễn giải ra sao và được chia sẻ với ai. Thứ hai, dữ liệu số cần giữ bối cảnh: ai thực hành, vào dịp nào, mang ý nghĩa gì; không biến nghi lễ thành những hình ảnh đẹp nhưng rỗng nghĩa. Thứ ba, lợi ích từ hoạt động quảng bá phải quay lại hỗ trợ người gìn giữ và điều kiện duy trì di sản.
Những giới hạn ấy không cản trở phát triển. Khi được quản trị tốt và tôn trọng chủ thể thực hành, việc đưa di sản vào đời sống đương đại có thể tạo thêm nguồn lực để cộng đồng phục hồi nghi lễ, củng cố thẩm quyền văn hóa và niềm tự hào bản sắc. Bởi vậy, bảo tồn nghi lễ truyền thống không thể chỉ đo bằng số bản ghi hay lượt xem; phải nhìn vào việc ai còn thực hành, ai học lại và cộng đồng có tiếp tục quyết định ý nghĩa của nghi lễ hay không.
Đánh giá bằng sức sống, không phải độ phủ
Tọa đàm ở Lạng Sơn xem xét thực trạng bảo tồn văn hóa, mô hình du lịch gắn với chuyển đổi số, câu lạc bộ văn hóa dân gian, sản phẩm truyền thống và OCOP; các đại biểu cũng nêu năng lực tiếp cận công nghệ của người dân và nguy cơ văn hóa chợ truyền thống mai một. Những chủ đề này nhắc rằng chuyển đổi số không chỉ là đưa nội dung lên mạng: người dân cần khả năng sử dụng công nghệ, còn chính sách phải giúp tháo gỡ khó khăn tại địa phương.
Đoàn công tác của Viện Dân tộc học và Tôn giáo học làm việc tại Lạng Sơn từ ngày 26/10 đến 3/11/2026; tọa đàm là hoạt động mở đầu để tổng hợp luận cứ, thực tiễn và dữ liệu phục vụ đề xuất giải pháp phát triển, giảm nghèo bền vững. Riêng nhóm nghiên cứu tại tọa đàm ở Hà Nội đã đề xuất dự thảo báo cáo tư vấn chính sách gửi các bộ liên quan, trong đó kiến nghị chuyển trọng tâm đánh giá từ số sự kiện, danh hiệu hay lượt khách sang khả năng duy trì, trao truyền và tái tạo di sản trong cộng đồng.
Đó là thước đo đúng hơn cho di sản văn hóa số: không phải có bao nhiêu thứ đã được lưu trữ, mà là công nghệ có giúp cộng đồng giữ quyền kể chuyện, thực hành và truyền lại văn hóa hay không. Nếu người dân chỉ còn là phông nền cho nội dung do người khác quyết định, số hóa đã đi chệch mục tiêu. Muốn văn hóa truyền thống sống tiếp mà không mất gốc, hãy để cộng đồng cầm chìa khóa của kho di sản.






