Khoảng cách lớn giữa nghiên cứu và ứng dụng
Khoa học nông nghiệp là hoạt động nghiên cứu và ứng dụng tri thức, kỹ thuật vào sản xuất, chế biến và quản lý nông nghiệp nhằm cải thiện năng suất, chất lượng và hiệu quả cho người sản xuất. Nhưng một kết quả nghiên cứu chỉ tạo giá trị rộng rãi khi có đường đi từ phòng thí nghiệm đến đồng ruộng, trang trại và thị trường. Tại hội nghị về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tổ chức sáng 27/10, Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Bộ Công an bàn cách thúc đẩy tăng trưởng ngành. Con số đáng chú ý đến từ báo cáo của 34 địa phương: trong 451 sản phẩm khoa học công nghệ nông nghiệp, có 341 sản phẩm vẫn ở giai đoạn nghiên cứu, tương đương khoảng 76%; tỷ lệ đã ứng dụng hoặc thương mại hóa chỉ khoảng 24%. Đây không phải thiếu ý tưởng, mà là dấu hiệu cho thấy mắt xích đưa ý tưởng vào sản xuất đang yếu.

Mục tiêu 60% sẽ khó đạt nếu chỉ đếm đề tài
Giai đoạn 2026-2030, ngành đặt mục tiêu ít nhất 60% kết quả nghiên cứu được ứng dụng, chuyển giao, thương mại hóa hoặc phục vụ quản lý nhà nước. So với tỷ lệ ứng dụng, thương mại hóa khoảng 24% trong báo cáo hiện trạng, đây là một bước nhảy lớn. Khoảng cách ấy buộc cách đánh giá nghiên cứu phải đổi: hoàn thành đề tài hay tạo ra sản phẩm trên giấy không thể là thước đo cuối cùng. Thực tế cho thấy nghiên cứu có thể đem lại lợi ích rõ rệt khi bám sát sản xuất. Giống lúa mới cùng công nghệ sinh học, cơ giới hóa và quy trình canh tác tiên tiến đã góp phần nâng năng suất khoảng 9,9%, tăng sản lượng ước 2,4 triệu tấn mỗi năm và tạo giá trị kinh tế gia tăng khoảng 12.000 tỷ đồng. Bài học không nằm ở việc chạy theo chỉ tiêu, mà ở khả năng đưa giải pháp phù hợp đến đúng người cần dùng.

Nút thắt nằm ở quan hệ giữa viện, trường, doanh nghiệp
Chuyển giao nghiên cứu không thể trông chờ vào một bước bàn giao sau khi đề tài kết thúc. Nhiều nhiệm vụ chưa xuất phát đủ sát nhu cầu của địa phương, hợp tác xã hay doanh nghiệp; trong khi đơn vị tiếp nhận, phương án ứng dụng và khả năng nhân rộng chưa được xác định rõ từ đầu. Liên kết lỏng lẻo giữa viện, trường và doanh nghiệp khiến tiến bộ kỹ thuật chậm đến nơi có thể kiểm chứng và tạo doanh thu. Đặc điểm sản xuất nhỏ lẻ, phân tán càng làm bài toán khó hơn: một công nghệ phù hợp với trang trại lớn chưa chắc vừa sức với hộ nông dân. Ngành cũng đang vướng hạn chế về giống và đầu vào, thiếu công nghệ bảo quản, chế biến sâu, trong khi dữ liệu chưa liên thông và nhân lực số còn yếu. Vì vậy, công nghệ nông nghiệp chỉ có cơ hội được sử dụng rộng nếu được thiết kế theo điều kiện thật của người sản xuất, thay vì yêu cầu họ tự xoay xở để thích nghi với sản phẩm nghiên cứu.
Đo thành công bằng giá trị ở nơi sản xuất
Hướng đi hợp lý là để doanh nghiệp, hợp tác xã và địa phương tham gia đặt hàng, đồng tài trợ và cam kết tiếp nhận kết quả ngay từ khi chọn nhiệm vụ. Cách làm này có thể buộc nhóm nghiên cứu giải quyết câu hỏi thiết thực hơn: ai sẽ dùng sản phẩm, cần hỗ trợ gì để áp dụng, và hiệu quả được đo bằng năng suất, chi phí, chất lượng hay thu nhập ra sao? Đây cũng là nền tảng để thương mại hóa nghiên cứu thay vì xem thương mại hóa là khâu phụ sau nghiệm thu. Ngành đã có minh chứng về lợi ích tại thực địa: hơn 2.000 mô hình nông nghiệp công nghệ cao, tuần hoàn và giảm phát thải được triển khai, với hiệu quả kinh tế ghi nhận tăng khoảng 10-30%. Trong giai đoạn 2026-2030, Bộ dự kiến đổi mới cách tổ chức nhiệm vụ, nâng hiệu quả cơ sở nghiên cứu và thúc đẩy liên kết với doanh nghiệp, thị trường. Mục tiêu 60% chỉ đáng tin khi nông dân và doanh nghiệp nhận được giải pháp dùng được, chứ không phải thêm một con số báo cáo.






