Kết nối chuỗi cung ứng phải bắt đầu từ năng lực thật
Chuỗi cung ứng toàn cầu là mạng lưới doanh nghiệp, nhà cung cấp và kênh phân phối cùng tham gia tạo ra, lưu chuyển sản phẩm qua nhiều thị trường. Với Hải Phòng, mục tiêu đưa doanh nghiệp Việt vào mạng lưới ấy chỉ có thể thành hiện thực khi năng lực sản xuất trong nước đáp ứng được yêu cầu cụ thể của các tập đoàn đầu chuỗi. Đây không phải bài toán tăng số cuộc gặp gỡ, mà là thu hẹp khoảng cách giữa điều doanh nghiệp quốc tế cần mua và điều nhà cung ứng địa phương có thể làm ổn định. Bối cảnh càng khiến việc này cấp thiết: thương mại quốc tế biến động, trong khi xuất khẩu vẫn phụ thuộc lớn vào khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Kết nối tốt hơn có thể mở thêm đơn hàng, việc làm và cơ hội cho các nhà sản xuất Việt, nhưng chỉ khi đi kèm cải thiện chất lượng, kỹ thuật và giao hàng.
Trong chín tháng đầu năm 2026, xuất khẩu của khu vực kinh tế trong nước đạt 83,89 tỷ USD, tăng 7,5%, còn khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 80,7% tổng kim ngạch xuất khẩu. Những con số này cho thấy thu hút đầu tư chưa đủ: nếu nhà máy FDI tiếp tục dựa nhiều vào nguồn cung bên ngoài, tác động lan tỏa tới doanh nghiệp Việt sẽ bị giới hạn. Hải Phòng cần đo thành công bằng số nhà cung ứng nội địa được nâng cấp và duy trì đơn hàng, thay vì chỉ bằng quy mô dự án mới.
Từ xưởng cơ khí đến tiêu chuẩn của khách hàng quốc tế
Công ty Cổ phần Cơ khí và Dịch vụ thương mại An Bình cho thấy cơ hội và thách thức nằm sát nhau. Những ngày cuối tháng 10/2026, hơn 100 kỹ sư, công nhân của doanh nghiệp tại xã Hồng An vận hành máy móc, gia công chi tiết cơ khí chính xác trong nhà xưởng rộng hơn 5.000 m². An Bình đã có đối tác Nhật Bản và xuất khẩu sản phẩm sang nhiều thị trường, nhưng tiếp cận được khách hàng quốc tế mới chỉ là bước đầu. Muốn trở thành nhà cung ứng lâu dài, doanh nghiệp phải giữ chất lượng ổn định, đáp ứng yêu cầu kỹ thuật và giao hàng đúng hạn.
Giám đốc Đỗ Văn Công cho biết An Bình dự kiến đào tạo nhân lực và đầu tư thiết bị hiện đại trong giai đoạn 2026–2027. Đó là hướng đi đúng, nhưng từng doanh nghiệp khó tự mình lấp mọi khoảng trống về công nghệ, quản trị và tiêu chuẩn. Sản xuất trong nước cần được nâng cấp theo yêu cầu đơn hàng thật: thiết bị phù hợp, quy trình chuẩn hóa, nhân lực có kỹ năng và năng lực kiểm soát chất lượng. Đây cũng là điều kiện để doanh nghiệp Hải Phòng cạnh tranh bằng độ tin cậy, không chỉ bằng giá.

Kết nối theo nhu cầu thay vì hỗ trợ dàn trải
Hải Phòng có lợi thế về khu công nghiệp, khu kinh tế, cảng biển và mạng lưới nhà sản xuất; thành phố hiện có 50 khu công nghiệp, khu kinh tế. Nhưng lợi thế hạ tầng chỉ tạo giá trị khi được chuyển thành hợp đồng giữa nhà đầu tư nước ngoài và nhà cung ứng trong nước. Vì vậy, định hướng sàng lọc dự án FDI theo công nghệ, liên kết nội địa và tiêu chuẩn xanh cần đi cùng câu hỏi thực tế: nhà đầu tư sẽ mua sản phẩm, dịch vụ nào tại Việt Nam, doanh nghiệp nội có thể tham gia công đoạn nào và còn thiếu năng lực gì?
Một bước cụ thể đã diễn ra ngày 19/8/2026: sau khi rà soát 30 doanh nghiệp, Sở Công Thương Hải Phòng và Samsung Việt Nam thống nhất chọn 5 doanh nghiệp có tiềm năng để tư vấn, cải tiến, hướng tới tham gia Dự án Nhà máy thông minh năm 2027. Cách làm này đáng nhân rộng nếu việc lựa chọn gắn với nhu cầu mua hàng và tiêu chuẩn kỹ thuật rõ ràng. Doanh nghiệp cần được tiếp cận trực tiếp thông tin về yêu cầu của bên mua; doanh nghiệp FDI cần mở rộng hợp tác với nhà cung ứng Việt; cơ quan quản lý phải hỗ trợ kết nối, hướng dẫn tiêu chuẩn và tháo gỡ vướng mắc. Nhà xưởng xây sẵn, quỹ đất phù hợp cho doanh nghiệp nhỏ và vừa cùng chương trình đào tạo từ doanh nghiệp đầu chuỗi cũng có thể giúp biến cơ hội thành năng lực cung ứng.
Mở rộng vai trò cần cả thị trường lẫn nền tảng hỗ trợ
Doanh nghiệp không thể nâng cấp chỉ để đạt một chứng nhận hay có mặt trong danh sách nhà cung ứng. Họ cần đơn hàng ổn định, thông tin minh bạch về tiêu chuẩn, khả năng truy xuất nguồn gốc và hỗ trợ để xử lý các yêu cầu kỹ thuật. Thị trường trong nước có thể tạo nền về nguồn hàng, mạng lưới cung ứng và uy tín thương hiệu; thị trường xuất khẩu mở rộng nhu cầu và thúc đẩy nâng cao năng lực sản xuất. Kết hợp các kênh phân phối, kể cả thương mại điện tử xuyên biên giới, cũng giúp doanh nghiệp có thêm lựa chọn khi nhu cầu hoặc tuyến vận chuyển thay đổi. Tuy nhiên, lựa chọn kênh phải phù hợp với đặc điểm sản phẩm, năng lực cung ứng và yêu cầu của từng thị trường.
Phần việc tiếp theo thuộc về cả doanh nghiệp lẫn chính quyền. Doanh nghiệp phải chủ động đầu tư thiết bị, phát triển nhân lực, chuẩn hóa quy trình và nâng chất lượng quản trị; cơ quan quản lý cần hướng dẫn rõ quy định, phối hợp xử lý vướng mắc theo ngành hàng và thị trường. Hải Phòng đã có hướng đi thiết thực khi kết nối nhu cầu của tập đoàn với doanh nghiệp được chọn, nhưng kết quả cuối cùng phải là năng lực đáp ứng đơn hàng và quan hệ cung ứng bền vững. Nếu thành phố kiên trì cách làm dựa trên nhu cầu thật, doanh nghiệp Việt có cơ hội tiến sâu hơn vào chuỗi cung ứng; nếu không, lợi thế cảng biển và dòng vốn đầu tư sẽ khó lan tỏa đủ rộng.






