Đổi mới pháp luật phải bắt đầu từ kết quả người dân nhận được
Cải cách thể chế là quá trình hoàn thiện quy tắc và cách thức tổ chức thực hiện để bảo đảm quản trị hiệu quả, quyền con người được bảo vệ và nguồn lực xã hội được khơi thông. Vì vậy, thành công không thể chỉ tính bằng số văn bản mới ban hành; phải nhìn vào việc quy định có áp dụng nhất quán, dễ hiểu và giải quyết được vấn đề trong đời sống hay không. Sáng 22/10, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tú chủ trì cuộc họp Tổ Biên tập Đề án “Chiến lược hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trong kỷ nguyên mới”. Cuộc họp cho thấy trọng tâm đang chuyển từ tham vọng thiết kế chính sách sang câu hỏi khó hơn: làm sao để luật đi vào thực tế. Nghị quyết 66-NQ/TW được nêu trong định hướng của bài viết, nhưng tài liệu hiện có không cung cấp nội dung để xác định yêu cầu cụ thể của nghị quyết; do đó, không nên gán cho văn bản này những chủ trương chưa được kiểm chứng.

Mục tiêu 2030 đòi hỏi luật rõ, đồng bộ và khả thi
Đến năm 2030, mục tiêu được đặt ra là xây dựng hệ thống pháp luật dân chủ, công bằng, đồng bộ, thống nhất, công khai, minh bạch và khả thi, đi kèm cơ chế tổ chức thực hiện nghiêm minh, nhất quán. Hệ thống đó phải tạo cơ sở pháp lý cho chính quyền ba cấp hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả và mở đường cho kiến tạo phát triển. Đây không nên là danh sách phẩm chất để đưa vào văn kiện rồi bỏ đó: mỗi tiêu chí cần được chuyển thành yêu cầu cụ thể khi soạn thảo, rà soát và tổ chức áp dụng luật. Định hướng cải cách thể chế gắn với đổi mới mô hình phát triển, mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số và yêu cầu phát triển nhanh, bền vững. Tầm nhìn đến năm 2045 hướng tới hệ thống pháp luật chất lượng cao, hiện đại, phù hợp thực tiễn đất nước và tiệm cận chuẩn mực quốc tế tiên tiến. Muốn tiến gần đích ấy, chính sách mới phải ăn khớp với quy định hiện hành, tránh tạo thêm chồng chéo và bất định cho người dân, doanh nghiệp.

Thi hành pháp luật mới là phép thử của cải cách
Một đạo luật được viết tốt nhưng áp dụng tùy nghi vẫn không tạo ra môi trường pháp lý đáng tin cậy. Vì thế, thi hành pháp luật cần được xem là phần cốt lõi của cải cách, không phải công đoạn theo sau việc ban hành. Định hướng của dự thảo là biến thực thi từ “khâu yếu”, “điểm nghẽn” thành lợi thế cạnh tranh, đồng thời cắt giảm tối đa chi phí và thời gian tuân thủ. Điều đó đòi hỏi trách nhiệm giải trình rõ ràng, hướng dẫn thống nhất và năng lực thực thi tương xứng ở các cấp. Chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm thông minh cũng chỉ có ý nghĩa khi dựa trên tiêu chuẩn, dữ liệu và quản trị rủi ro, thay vì mở rộng kiểm tra bằng những thủ tục khó đoán. Với người dân, kết quả cần thấy là quyền được tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ hiệu quả; với cơ sở kinh doanh, đó là quy định dễ tra cứu và cách áp dụng nhất quán. Nếu gánh nặng tuân thủ không giảm, lời hứa cải cách chưa được chứng minh.
Đo bằng tác động, không bằng số văn bản
Muốn định hướng trở thành kết quả, việc đánh giá cần theo dõi tác động sau khi quy định có hiệu lực: người dân có tiếp cận quyền lợi thuận lợi hơn không, thời gian và chi phí tuân thủ có giảm không, các cơ quan có áp dụng cùng một cách hiểu không. Những phép đo này buộc cơ quan xây dựng chính sách chịu trách nhiệm với toàn bộ vòng đời của quy định, từ thiết kế đến thực thi, thay vì dừng ở khâu hoàn tất văn bản. Cuộc họp ngày 22/10 kết thúc với đề nghị Tổ Biên tập nghiên cứu, chọn lọc ý kiến đóng góp để tiếp thu phù hợp và nâng cao chất lượng sơ thảo Đề án. Đây là bước tiếp theo cần thiết, nhưng giá trị cuối cùng sẽ nằm ở những cơ chế bảo đảm thực hiện và cách kiểm chứng kết quả. Kết luận rất rõ: xây dựng pháp luật tốt là điều kiện cần; thi hành nghiêm minh, nhất quán mới là thước đo cải cách thể chế và nền tảng để pháp luật thực sự phục vụ phát triển.






