Số hóa y tế là đổi cách vận hành, không chỉ thay giấy bằng màn hình
Chuyển đổi số y tế là việc đưa dữ liệu và quy trình khám, chữa bệnh lên nền tảng số để kết nối thông tin, hỗ trợ chăm sóc người bệnh và quản lý nguồn lực hiệu quả hơn. Giá trị môi trường của nó nằm ở việc giảm những vật liệu và thao tác không cần thiết, chứ không phải số hóa cho đủ chỉ tiêu. Bộ Y tế đặt chuyển đổi số trong Kế hoạch tăng trưởng xanh giai đoạn 2025–2030, hướng tới hệ thống hiện đại, bền vững và thân thiện hơn với môi trường. Đây là hướng đi đúng: bệnh viện tiêu thụ nhiều giấy, vật tư, điện và nước; cải thiện cách sử dụng chúng có thể đồng thời giảm lãng phí và nâng chất lượng phục vụ. Nhưng công nghệ chỉ tạo ra lợi ích khi dữ liệu được dùng lại, quy trình được thiết kế hợp lý và nhân viên có kỹ năng vận hành.
Nghệ An cho thấy quy mô triển khai đã vượt khỏi vài dự án thử nghiệm: toàn bộ 534 cơ sở khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế đã liên thông sổ sức khỏe điện tử trên VNeID; hơn 1,1 triệu hồ sơ được tích hợp, tương đương 27,63% dân số. Các con số này không tự động đồng nghĩa với giảm rác, nhưng tạo nền tảng để người dân và cơ sở y tế hạn chế khai lại thông tin, in và lưu trữ hồ sơ trùng lặp.

Bệnh án điện tử và sổ sức khỏe điện tử cắt bớt giấy tờ từ đầu quy trình
Bệnh án điện tử giúp giảm nhu cầu in và cất giữ hồ sơ giấy; sổ sức khỏe điện tử cũng có thể giúp thông tin theo người bệnh qua các lần khám, thay vì được ghi lại trên nhiều biểu mẫu. Với người bệnh, tác động dễ thấy là bớt khâu khai báo và chờ đợi. Tại Nghệ An, sử dụng căn cước công dân, VNeID và kiosk tự phục vụ giúp rút ngắn thời gian chờ từ 15 đến 30 phút. Đó là lợi ích thiết thực hơn một khẩu hiệu “không giấy”: ít thủ tục lặp lại giúp người bệnh dành thời gian cho việc khám, còn nhân viên có thêm điều kiện tập trung vào chuyên môn.
Dù vậy, hồ sơ số chỉ thay thế giấy hiệu quả khi hệ thống liên thông, thông tin chính xác và người dân có thể tiếp cận. Nghệ An cho biết cả 53 bệnh viện công lập, tư nhân và bệnh viện thuộc bộ, ngành trên địa bàn đã hoàn thành thẩm định đủ điều kiện triển khai bệnh án điện tử. Ở Ninh Bình, kế hoạch chuyển đổi số năm 2026 tập trung phát triển hạ tầng, dữ liệu và nhân lực; địa phương cũng đặt mục tiêu bồi dưỡng kỹ năng số cơ bản cho toàn bộ cán bộ, công chức, viên chức. Đào tạo và bảo đảm an toàn thông tin vì thế phải đi cùng số hóa, không thể xem là phần việc phụ.

Bớt in phim là giảm vật tư, nhưng chuyên môn phải quyết định
Một khoản lãng phí ít được người bệnh nhìn thấy nằm ở phim chẩn đoán hình ảnh và giấy tờ đi kèm. Khi hình ảnh được lưu trữ, xem và trao đổi trên hệ thống số, bệnh viện có thể giảm in phim, tiết kiệm vật tư và hạn chế lượng vật liệu cần xử lý. Bệnh viện Bạch Mai triển khai bệnh án điện tử từ tháng 11/2024, chuyển dần từ hồ sơ giấy sang lưu trữ và khai thác dữ liệu số. Theo chia sẻ của lãnh đạo bệnh viện, việc không in phim X-quang, cắt lớp vi tính, cộng hưởng từ cùng giấy tờ liên quan giúp tiết kiệm khoảng 100 tỷ đồng mỗi năm. Đây là minh chứng rõ cho khả năng tiết kiệm nguồn lực, dù con số của một bệnh viện không nên được mặc định là kết quả của mọi cơ sở.
Không in phim không thể trở thành mục tiêu áp dụng bất kể hoàn cảnh. Nguồn thông tin nêu rõ việc sử dụng dữ liệu hình ảnh số để hạn chế phim in chỉ phù hợp khi điều kiện chuyên môn cho phép. Bảo đảm chất lượng chẩn đoán và an toàn người bệnh phải là giới hạn không thể thương lượng. Tương tự, giảm vật liệu dùng một lần cần phù hợp yêu cầu kiểm soát nhiễm khuẩn; tiết kiệm chỉ có ý nghĩa khi không chuyển rủi ro môi trường thành rủi ro điều trị.
Quản trị thông minh biến tiết kiệm điện, nước và kiểm soát chất thải thành việc thường ngày
Một bệnh viện không thể xanh chỉ nhờ giảm giấy. Theo dõi mức dùng điện, nước và vật tư theo từng khu vực giúp nhận ra nơi tiêu hao bất thường; số hóa việc điều phối lịch khám, giường bệnh, kho và thiết bị có thể khai thác tốt hơn công suất sẵn có, thay vì để quy trình thủ công gây chờ đợi hoặc nguồn lực nhàn rỗi. Bạch Mai đặt mục tiêu tối ưu 10–15% nguồn lực năng lượng, tập trung giảm điện và nước tiêu thụ trên mỗi giường bệnh. Đây là mục tiêu cần được kiểm chứng bằng số liệu vận hành định kỳ, không chỉ bằng kế hoạch.
Công nghệ cũng có thể hỗ trợ theo dõi phân loại tại nguồn, thu gom, lưu giữ và xử lý chất thải y tế, nhưng không thay thế kỷ luật chuyên môn. Chất thải lây nhiễm, nguy hại phải được quản lý đúng quy định; vật liệu có thể tái chế chỉ được xử lý theo cách không ảnh hưởng kiểm soát nhiễm khuẩn. Hướng tới bệnh viện xanh vì vậy cần kết hợp dữ liệu quản trị với quy trình rõ ràng, người chịu trách nhiệm và giám sát kết quả. Chuyển đổi số đáng làm không phải vì mọi thứ đều lên mạng, mà vì mỗi quyết định giúp bệnh viện phục vụ tốt hơn với ít lãng phí hơn.
Đích đến phải là hệ thống y tế hiện đại và bền vững
Các kế hoạch tiếp theo cho thấy chuyển đổi số đang được gắn với năng lực quản trị dài hạn. Cà Mau xác định bệnh án điện tử là hạt nhân chuyển đổi số y tế giai đoạn 2026–2027, với tầm nhìn đến năm 2030; Ninh Bình đặt mục tiêu tăng khai thác, sử dụng lại dữ liệu đã số hóa trong giải quyết thủ tục hành chính và dịch vụ công. Cùng với đó, mục tiêu tiết kiệm năng lượng, giảm chất thải nguy hại và nâng hiệu quả xử lý nước thải cần được theo dõi bằng chỉ số cụ thể.
Kết luận không nên là “càng số hóa càng xanh”. Số hóa tạo cơ hội giảm giấy, phim và thao tác trùng lặp; quản trị thông minh giúp nhận diện lãng phí điện, nước và kiểm soát dòng chất thải. Nhưng lợi ích chỉ bền vững khi dữ liệu chính xác, hệ thống an toàn, nhân viên được đào tạo và yêu cầu chuyên môn luôn đứng trước mục tiêu tiết kiệm. Đó mới là con đường đáng tin cậy để xây dựng bệnh viện xanh và một hệ thống y tế hiện đại, hiệu quả, thân thiện với môi trường.






