535 sản phẩm là nền tảng, không phải đích đến
Sản phẩm OCOP là hàng hóa đặc trưng của địa phương được đánh giá, phân hạng theo tiêu chuẩn chất lượng, qua đó tạo cơ hội kết nối sản xuất nông thôn với thị trường rộng hơn. Quảng Ngãi hiện có 535 sản phẩm OCOP còn thời hạn, đạt từ 3 sao trở lên, với 280 chủ thể tham gia gồm hợp tác xã, doanh nghiệp, cơ sở sản xuất và hộ kinh doanh. Quy mô ấy cho thấy chương trình đã vượt khỏi phạm vi một vài mô hình riêng lẻ; nhưng số lượng chỉ có ý nghĩa khi sản phẩm giữ được chất lượng và tìm thấy khách hàng ổn định. Trong cơ cấu hiện tại, sản phẩm 3 sao chiếm 90%, 4 sao chiếm 9,6%, còn 2 sản phẩm đạt 5 sao. Đây là dấu hiệu vừa đáng ghi nhận vừa nhắc tỉnh cần tập trung nâng chuẩn: độ phủ rộng tạo nền móng, còn năng lực cạnh tranh quyết định OCOP có tạo sinh kế bền vững hay không.
280 chủ thể: sức bật nằm ở cách tổ chức sản xuất
Con số 280 chủ thể OCOP quan trọng không chỉ vì số lượng đơn vị tham gia, mà vì nó phản ánh nhiều kiểu tổ chức kinh tế cùng góp sức: hợp tác xã có thể tập hợp hộ dân, doanh nghiệp có năng lực đầu tư và mở thị trường, còn cơ sở sản xuất, hộ kinh doanh thường gắn chặt với nghề và nguyên liệu tại chỗ. Muốn mạng lưới này tạo lực đẩy, các chủ thể cần phối hợp từ nguồn nguyên liệu đến khâu chế biến, tiêu chuẩn hóa và tiêu thụ. Định hướng của tỉnh là gắn phát triển OCOP với cơ cấu lại nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới, đồng thời nâng chất lượng, tổ chức sản xuất theo chuỗi liên kết và mở rộng thị trường. Đây là lựa chọn đúng: nếu mỗi cơ sở chỉ lo sản phẩm của mình, OCOP dễ dừng ở danh hiệu; liên kết tốt mới giúp người dân có đầu ra ổn định và địa phương giữ lại nhiều giá trị hơn.
Từ sản phẩm đạt sao đến việc làm và thu nhập
Giá trị OCOP nên được đo bằng tác động đời sống, chứ không chỉ bằng số sao. Một mô hình chăn nuôi gà ác lấy trứng tại Duy Xuyên cho thấy sản phẩm có thể trở thành sinh kế địa phương: từ 3.000 con năm 2018, đàn gà của cơ sở Hảo Nhân hiện duy trì 10.000 con, tạo việc làm cho 5 lao động địa phương. Chủ cơ sở đặt mục tiêu nâng sản phẩm trứng gà ác từ 3 sao lên 4 sao. Bài học ở đây không phải mọi chủ thể đều cần mở rộng quy mô như nhau, mà là danh hiệu cần đi cùng năng lực sản xuất, chất lượng nhất quán và kế hoạch tiêu thụ. Khi sản phẩm tạo được việc làm, gắn với nguồn lực tại chỗ và đem lại thu nhập cho người dân, chương trình mới đóng góp thiết thực cho kinh tế nông thôn.

Khoảng trống ở cấp xã là dư địa phát triển
Tỉnh vẫn còn 12 trong tổng số 96 đơn vị cấp xã chưa có sản phẩm OCOP, cho thấy chương trình chưa khai thác hết tiềm năng tại cơ sở. Mở rộng số lượng sản phẩm ở những địa bàn này chỉ nên là bước đầu; cần chọn lợi thế tự nhiên, văn hóa bản địa và khả năng gắn với du lịch để tạo sản phẩm có bản sắc, thay vì chạy theo việc đạt sao. Đi cùng lựa chọn ấy là đầu tư máy móc, công nghệ phù hợp và kết nối cung cầu để cải thiện năng suất, chất lượng và đầu ra. Kinh nghiệm hỗ trợ sản xuất ở Đà Nẵng cho thấy cơ quan chức năng tiếp tục xem xét hỗ trợ các cơ sở còn lại trong đợt tiếp theo, đồng thời xúc tiến thương mại để đưa chủ thể OCOP vào chuỗi cung ứng rộng hơn. Với Quảng Ngãi, hướng đi tương tự chỉ phát huy tác dụng nếu hỗ trợ gắn với nhu cầu thực tế của từng chủ thể.
Muốn OCOP thành động lực, phải chăm lo cả chuỗi giá trị
OCOP Quảng Ngãi đã có độ phủ đáng kể, nhưng bước tiếp theo không nên chỉ là tăng thêm hồ sơ hay sản phẩm được xếp hạng. Tỉnh cần giúp các chủ thể duy trì chất lượng, xây dựng chuỗi liên kết từ nguyên liệu đến tiêu thụ, mở rộng thị trường và kể được câu chuyện địa phương một cách đáng tin cậy. Khai thác điều kiện tự nhiên, văn hóa bản địa và tiềm năng du lịch có thể làm tăng giá trị sản phẩm, miễn là những yếu tố ấy được chuyển thành trải nghiệm và lợi ích thật cho người mua, người sản xuất. Khi hợp tác xã, doanh nghiệp, cơ sở sản xuất và hộ kinh doanh có vai trò rõ ràng trong chuỗi, danh hiệu OCOP mới trở thành công cụ phát triển thay vì điểm kết thúc. Thước đo cuối cùng phải là sinh kế bền vững, việc làm và thu nhập được cải thiện cho cư dân nông thôn.






