Hai môn thi, một mục tiêu rộng hơn chuyện tuyển sinh
Kỳ thi vào lớp 10 công lập là hình thức tuyển sinh dành cho học sinh hoàn thành trung học cơ sở, và dự thảo mới đề xuất nếu tổ chức thi thì chỉ dùng Toán cùng Ngữ văn làm căn cứ tuyển chọn. Đây là thay đổi giảm từ ba môn xuống hai, nhưng ý nghĩa của nó không nên chỉ được đo bằng số buổi ôn tập bớt đi.
Bộ Giáo dục và Đào tạo công bố dự thảo thông tư về tiếp nhận học sinh đầu cấp để lấy ý kiến; ngày 28/10, ông Thái Văn Tài, Vụ trưởng Vụ Giáo dục phổ thông, giải thích đề xuất thi Toán Văn với kỳ thi lớp 10 công lập. Theo lãnh đạo ngành, giảm số môn có thể góp phần giảm áp lực thi, đồng thời đưa trọng tâm trở lại quá trình học tập thay vì biến kỳ thi thành đích đến.
Đó là hướng đi đáng cân nhắc: một kỳ tuyển sinh không nên buộc học sinh thu hẹp việc học vào danh sách môn có khả năng xuất hiện trong đề.

Giảm áp lực không chỉ bằng cách bớt một môn
Lý do cấp thiết của đề xuất nằm ở cả định hướng chính sách lẫn thay đổi trong tuyển sinh. Bộ cho biết chủ trương nhằm bảo đảm cơ hội học tập, không dùng kỳ thi để loại bỏ học sinh và giảm tối đa sức ép, đặc biệt ở kỳ thi vào lớp 10. Trong một năm vừa qua, tỷ lệ học sinh sau lớp 9 vào lớp 10 tăng từ 75% lên trên 80%; Bộ dự báo tỷ lệ này còn tăng và nhiều địa phương có thể không cần tổ chức thi tuyển.
Khi số học sinh phải cạnh tranh qua kỳ thi giảm, việc giữ nguyên một kỳ thi nặng nề trên diện rộng sẽ khó phù hợp với mục tiêu mở rộng cơ hội. Dự thảo cho phép địa phương lựa chọn xét tuyển, kết hợp xét tuyển với thi tuyển hoặc tổ chức thi; vì vậy, trách nhiệm thực tế chuyển một phần sang địa phương, nơi phải cân nhắc phương án tuyển sinh phù hợp và giảm áp lực.
Bớt môn là một tín hiệu, không phải bảo đảm tự động. Nếu đề thi hai môn vẫn tạo cuộc đua luyện đề căng thẳng, áp lực có thể đổi hình thức chứ chưa chắc biến mất.

Tránh để môn thi quyết định cách học và chọn nghề
Lập luận đáng chú ý nhất của Bộ không chỉ là giảm tải, mà là ngăn kỳ thi vô tình điều khiển chương trình học của học sinh. Khi một môn được đưa vào đề tuyển sinh, gia đình và nhà trường thường có lý do để dồn thêm thời gian, nguồn lực cho môn đó. Nếu tình trạng ấy kéo dài, các môn không thi dễ bị xem nhẹ, còn sở thích và năng lực của học sinh có thể bị nhìn qua lăng kính điểm số.
Theo ông Thái Văn Tài, quy định môn thi có thể khiến học sinh học theo môn thi và ảnh hưởng đến lựa chọn nghề nghiệp; mục tiêu của việc giảm môn là hướng tới giáo dục toàn diện, xem quá trình học như cơ hội nhận ra năng lực bản thân. Quan điểm này thuyết phục, nhưng hai môn thi chỉ góp phần mở đường: giáo dục toàn diện còn cần cách dạy, đánh giá và tư vấn nghề nghiệp không chạy theo điểm tuyển sinh.

Hiệu quả phụ thuộc vào cách thực hiện
Phụ huynh có lý do để băn khoăn khi đề xuất bỏ môn thứ ba, nhất là những gia đình đã đầu tư cho con học ngoại ngữ từ sớm. Nhưng giữ thêm một môn chỉ để khẳng định tầm quan trọng của môn đó cũng không giải quyết được câu hỏi lớn hơn: địa phương có đủ chỗ học và phương án tuyển sinh công bằng hay không?
Dự thảo đặt việc thi trong một bức tranh rộng hơn về tiếp nhận học sinh: địa phương phải dự báo quy mô trường lớp, chuẩn bị cơ sở vật chất và giáo viên; nguyên tắc được nêu là học sinh được học tại trường gần nhà, không phân biệt địa giới hành chính. Nếu năng lực trường lớp chưa theo kịp, giảm môn thi vẫn chưa xóa được cạnh tranh gay gắt ở những nơi thiếu chỗ.
Vì vậy, đề xuất thi Toán Văn có giá trị nhất khi đi cùng tuyển sinh linh hoạt, tăng khả năng tiếp nhận và bảo đảm chất lượng học tập. Đích đến không phải kỳ thi nhẹ hơn trên giấy, mà là học sinh được học đủ rộng và không phải chọn tương lai theo môn xuất hiện trong đề.






