Biến cam kết thành công trình và lợi ích cụ thể
Hợp tác Việt Nam – Lào về hạ tầng và kinh tế là nỗ lực kết nối giao thông, năng lượng, thương mại và đầu tư để mở rộng cơ hội phát triển cho người dân, doanh nghiệp và toàn khu vực.
Đó là hướng đi đúng, nhưng thước đo thành công không nằm ở số cuộc gặp hay tuyên bố, mà ở tiến độ công trình và mức độ thuận lợi hơn cho hoạt động kinh tế. Ngày 14/10, tại trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Lê Minh Hưng tiếp ông Vilay Lakhamphong, Thường trực Ban Bí thư Trung ương Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, cùng đoàn đại biểu cấp cao đang thăm chính thức Việt Nam. Cuộc gặp diễn ra khi hai nước tìm kiếm động lực mới để nâng hiệu quả hợp tác; yêu cầu đặt ra là chuyển gắn kết chiến lược thành dự án có ích thiết thực. Hai bên cần phối hợp xử lý vướng mắc và thực hiện các thỏa thuận trong Chiến lược hợp tác giai đoạn 2021–2030, cũng như Hiệp định hợp tác giữa hai Chính phủ giai đoạn 2026–2030.

Giao thông và năng lượng là phép thử về khả năng phối hợp
Trọng tâm trước mắt là những dự án hạ tầng giao thông có khả năng thay đổi cách hàng hóa lưu chuyển giữa hai nước. Thủ tướng Lê Minh Hưng đề nghị hai bên tháo gỡ khó khăn, đẩy nhanh tuyến đường bộ cao tốc Hà Nội – Vientiane và tuyến đường sắt Vientiane – Vũng Áng. Nếu được kết nối đồng bộ với đường bộ, cửa khẩu, đường sắt và cảng biển, các tuyến này có thể rút ngắn hành trình, giảm chi phí vận tải cho doanh nghiệp và giúp hàng hóa cạnh tranh tốt hơn. Với Lào, kết nối cảng biển Việt Nam mở thêm đường ra thị trường quốc tế; với Việt Nam, đây là cơ hội phát triển logistics và tăng liên kết kinh tế khu vực.
Hợp tác năng lượng cũng cần được đẩy nhanh, nhưng không nên chỉ nhìn vào khả năng bổ sung nguồn cung. Hai nước cần xem xét hiệu quả kinh tế, bảo vệ môi trường và khả năng thích ứng dài hạn khi triển khai các dự án kết nối năng lượng. Bài học quan trọng là hạ tầng chỉ phát huy hết giá trị khi quy hoạch, thủ tục và phối hợp giữa các cơ quan, địa phương được làm đồng bộ.
Thương mại song phương cần đi cùng kết nối thị trường
Đường sá và đường sắt chỉ tạo ra giá trị kinh tế khi doanh nghiệp có thể sử dụng chúng để đưa hàng hóa đến khách hàng. Vì vậy, thương mại song phương và đầu tư cần được xem là phần tiếp nối của các dự án giao thông, không phải một chương trình tách rời. Hai nước đặt trọng tâm vào mở rộng hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư, đồng thời cần cụ thể hóa cam kết thành chương trình, dự án có kết quả thực chất. Khi chuỗi vận chuyển xuyên biên giới thuận lợi hơn, doanh nghiệp có thêm điều kiện tổ chức cung ứng và nâng sức cạnh tranh; người tiêu dùng cũng có thể hưởng lợi từ giao thương hiệu quả hơn.
Việc phối hợp tháo gỡ trở ngại về thủ tục, cửa khẩu và kết nối các phương thức vận tải sẽ quyết định liệu cơ hội đầu tư có thành hoạt động kinh doanh bền vững hay không. Hai nước cũng tiếp tục phối hợp tại các diễn đàn đa phương, trong đó có ASEAN, Liên Hợp Quốc và các cơ chế hợp tác tiểu vùng Mekong. Hướng tới năm 2027, hai bên được đề nghị tổ chức thiết thực Năm Đoàn kết hữu nghị và gắn kết Việt Nam – Lào, nhân dịp 65 năm thiết lập quan hệ ngoại giao và 50 năm ký Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác.
Người lao động và nguồn nhân lực phải được tính vào kế hoạch
Một tuyến đường mới không tự tạo ra đội ngũ có kỹ năng để xây dựng, vận hành và duy trì công trình. Bởi vậy, phát triển nhân lực và bảo vệ quyền lợi người lao động cần đi cùng kế hoạch hạ tầng. Công đoàn Xây dựng Việt Nam đã hội đàm với Liên hiệp Công đoàn Bộ Công chính và Vận tải Lào để trao đổi kinh nghiệm, củng cố hợp tác giữa tổ chức công đoàn hai nước. Hai bên hướng tới chia sẻ cách chăm lo đời sống, đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động. Vai trò ấy thiết thực hơn khi các dự án kết nối kéo theo nhu cầu phối hợp giữa lực lượng lao động và đơn vị ở hai bên biên giới.
Đào tạo cũng cần được đặt thành ưu tiên dài hạn. Thủ tướng Lê Minh Hưng đề nghị sớm triển khai dự án Trường Đại học Hữu nghị Lào – Việt nhằm thúc đẩy giao lưu, đào tạo nguồn nhân lực và tăng gắn kết nhân dân hai nước. Những trao đổi giữa các tổ chức công đoàn có thể bổ trợ mục tiêu đó bằng việc chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn về hoạt động và bảo vệ đoàn viên. Kết luận lại, hợp tác Việt Nam Lào chỉ tạo được động lực tăng trưởng bền vững khi công trình được triển khai đúng tiến độ, thị trường được kết nối và người lao động được chuẩn bị, bảo vệ tương xứng.







