Từ thiện chí đến hợp tác thực chất
Hợp tác Việt Đức trong lĩnh vực xây dựng và hạ tầng là định hướng phối hợp giữa hai nước nhằm chia sẻ kinh nghiệm, công nghệ và năng lực triển khai trong giao thông, đường sắt, hàng không, hàng hải, phát triển đô thị và chuyển đổi xanh. Đây là hướng đi đáng chú ý khi Việt Nam đang chuẩn bị nhiều dự án hạ tầng quy mô lớn. Chiều 26/10, tại trụ sở Bộ Xây dựng, Thứ trưởng Nguyễn Tường Văn tiếp ông Christian Freiherr von Stetten, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế cùng các nghị sĩ Quốc hội Liên bang Đức và đại diện Đại sứ quán Đức tại Hà Nội. Tại buổi làm việc, Thứ trưởng khẳng định Việt Nam coi trọng quan hệ hợp tác với Đức và mong muốn thúc đẩy phối hợp thực chất trong các lĩnh vực thuộc ngành xây dựng. Điểm đáng quan tâm không chỉ là danh sách lĩnh vực rộng, mà là sự gắn kết giữa nhu cầu phát triển của Việt Nam với kinh nghiệm công nghệ và quản lý của Đức. Tuy vậy, định hướng chỉ tạo giá trị khi được chuyển thành cơ chế trao đổi và cơ hội hợp tác cụ thể.
Đường sắt là phép thử quan trọng
Đường sắt nổi lên như một trọng tâm có cơ sở rõ ràng: Việt Nam đang nghiên cứu, chuẩn bị đầu tư các dự án lớn, còn Đức có thế mạnh công nghệ. Siemens Mobility đã ký thỏa thuận hợp tác chiến lược và chuyển giao công nghệ với đối tác Việt Nam; trước đó, Đức cũng hỗ trợ Việt Nam phát triển hệ thống pháp luật đường sắt từ năm 2005. Quy hoạch đường sắt đến năm 2030, tầm nhìn 2050 đặt mục tiêu hoàn thiện 25 tuyến, gồm 18 tuyến mới, với tổng chiều dài khoảng 4.000 km; từ nay đến năm 2045, Việt Nam dự kiến phát triển khoảng 1.000 km đường sắt đô thị. Quy mô này khiến hợp tác công nghệ có tiềm năng lớn, nhưng cũng đặt ra yêu cầu phải gắn chuyển giao với năng lực nội địa hóa sản phẩm công nghiệp. Đức không phải đối tác mới trong lĩnh vực này, song giai đoạn tới cần biến kinh nghiệm và thỏa thuận hiện có thành đóng góp phù hợp với kế hoạch đầu tư của Việt Nam.
Giao thông đa phương thức và đô thị xanh
Hợp tác không dừng ở đường sắt. Hàng không và hàng hải đã có nền tảng pháp lý, hoạt động khai thác và chương trình phối hợp; những lĩnh vực này có thể bổ trợ cho mục tiêu phát triển hạ tầng giao thông đồng bộ. Năm 2025, các đường bay giữa Đức với Hà Nội và TP.HCM ghi nhận khoảng 2,01 nghìn chuyến, 382,36 nghìn lượt khách và 32,3 nghìn tấn hàng hóa. Trong 9 tháng năm 2026, con số tương ứng là khoảng 1,55 nghìn chuyến, 321,45 nghìn lượt khách và 25,3 nghìn tấn hàng hóa. Ở hàng hải, Hiệp định Vận tải biển song phương năm 1993 vẫn còn hiệu lực; hợp tác trong dự án phát triển bền vững các cảng biển ASEAN đã hỗ trợ nâng cao năng lực quản lý môi trường cảng. Còn về phát triển đô thị, phía Đức quan tâm đến các dự án đường sắt và đại đô thị, cho thấy nhu cầu trao đổi vượt ra ngoài công trình đơn lẻ. Gắn giao thông với quy hoạch đô thị và chuyển đổi xanh là hướng hợp lý, nhưng đòi hỏi phối hợp liên ngành thay vì triển khai từng lĩnh vực rời rạc.
Bước tiếp theo phải là tháo gỡ điểm nghẽn
Đoàn công tác Đức đã hỏi về nguồn lực, tiến độ các dự án lớn và cơ hội để doanh nghiệp Đức tham gia; phía đoàn cũng đề xuất thành lập nhóm nghiên cứu, trao đổi với Bộ Xây dựng nhằm thúc đẩy hợp tác. Đây là gợi ý thiết thực: một đầu mối làm việc thường xuyên có thể giúp kết nối nhu cầu của chủ đầu tư Việt Nam với năng lực của doanh nghiệp Đức. Việt Nam đồng thời nhấn mạnh yêu cầu tăng tỷ lệ nội địa hóa. Vì vậy, hợp tác hiệu quả không nên chỉ được đo bằng mức độ tham gia của nhà cung cấp nước ngoài, mà còn bằng khả năng chuyển giao công nghệ và phát triển năng lực trong nước. Bộ Xây dựng cho biết thời gian tới sẽ tập trung tháo gỡ thể chế, hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân phát triển dự án nhanh và sáng tạo. Thông điệp này quan trọng bởi tiến độ phải đi cùng chất lượng. Việt Nam mong muốn sớm biến các dự án đường sắt thành hiện thực, nhưng kết quả hợp tác Việt Đức sẽ phụ thuộc vào việc định hướng chung được nối với cơ chế thực hiện rõ ràng.






