Không chỉ cần vốn, mà cần vốn đi đúng nơi
Phân bổ tín dụng là quá trình ngân hàng quyết định doanh nghiệp và hoạt động kinh tế nào được vay, với điều kiện, chi phí và mức độ rủi ro ra sao. Khi Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng hai con số cho giai đoạn 2026–2030, câu hỏi không thể dừng ở quy mô nguồn vốn: vốn được dẫn tới đâu và tạo ra giá trị gì mới là phép thử về chất lượng tăng trưởng. Kết luận số 18-KL/TW ngày 02/4/2026 gắn mục tiêu này với yêu cầu giữ ổn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm các cân đối lớn. Vì vậy, mở rộng tín dụng không nên trở thành đích tự thân. Dòng vốn ngân hàng cần hỗ trợ đầu tư sản xuất, đổi mới công nghệ, mở rộng thị trường và duy trì việc làm, đồng thời tránh chảy quá mức vào hoạt động đầu cơ hay dự án thiếu hiệu quả. Tăng trưởng chỉ bền khi vốn được sử dụng đúng.
Áp lực huy động nguồn lực là rất lớn. Bộ trưởng Tài chính Ngô Văn Tuấn cho biết để hướng tới tăng trưởng trên 10%, giai đoạn 2026–2030 cần huy động khoảng 40% tổng vốn đầu tư toàn xã hội và đưa hệ số ICOR về 4,5–4,8. Đây là lý do quyết định tín dụng tại từng ngân hàng có ý nghĩa vượt xa một hồ sơ vay: nó biến định hướng vĩ mô thành khả năng đầu tư cụ thể, hoặc để cơ hội kinh doanh bị đình lại. Cung ứng thêm vốn mà không quan tâm hiệu quả sử dụng chỉ làm tăng rủi ro, chứ không bảo đảm tăng trưởng.
Cửa ngân hàng là nơi chủ trương trở thành trải nghiệm
Chủ trương giảm lãi suất hay nới khả năng cung ứng vốn chỉ phát huy tác dụng khi doanh nghiệp thực sự vay được. Ngày 17/10/2026, Thủ tướng Lê Minh Hưng yêu cầu có giải pháp quyết liệt, hiệu quả để giảm lãi suất cho vay; ngày 19/10, Vietcombank công bố chương trình hỗ trợ sản xuất, kinh doanh và lĩnh vực ưu tiên, giảm lãi suất 1,5–2% một năm, một số lĩnh vực giảm tới 3% so với mức hiện hành. Nhưng lãi suất thấp chưa đủ nếu quy trình rườm rà, yêu cầu tài sản bảo đảm không phù hợp hoặc cách thẩm định thiếu nhất quán khiến hồ sơ bị chặn ở chi nhánh. Ngân hàng Nhà nước cho biết sẽ khuyến khích tổ chức tín dụng cho vay dựa trên năng lực thực tế của doanh nghiệp và tạo cơ sở pháp lý để ngân hàng yên tâm triển khai. Đó là hướng đi đúng: đánh giá thực chất thay vì dựa máy móc vào tài sản thế chấp.
Khoảng cách tiếp cận vốn vẫn đáng lưu tâm: doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm khoảng 98% tổng số doanh nghiệp nhưng chỉ nhận khoảng 20% dư nợ tín dụng. Trong khi đó, tổng dư nợ hơn 20,79 triệu tỷ đồng, với 77,44% dành cho sản xuất, kinh doanh. Tỷ trọng chung này cho thấy vốn đã có hướng đi tới hoạt động tạo sản lượng, nhưng chưa xóa được trở ngại của nhóm doanh nghiệp nhỏ. Minh bạch thông tin tài chính, dòng tiền và hoạt động kinh doanh giúp ngân hàng thẩm định năng lực trả nợ; song ngân hàng cũng cần quy trình dễ hiểu, nhất quán và phù hợp với mô hình kinh doanh, thay vì biến chuẩn an toàn thành rào cản bất khả thi.
Hướng vốn vào sản xuất, không hạ chuẩn an toàn
Cơ chế cấp tín dụng phải làm được hai việc cùng lúc: ưu tiên hoạt động tạo năng suất và giữ kỷ luật rủi ro. Trong sáu tháng đầu năm 2026, Vietcombank cho biết vốn được ưu tiên cho sản xuất, kinh doanh, tài chính xanh và các dự án trọng điểm quốc gia; đến hết tháng 5, tín dụng vào các lĩnh vực ưu tiên tăng gần 8%, chiếm khoảng 34% tổng quy mô tín dụng. Những con số này cho thấy ưu tiên có thể được cụ thể hóa trong quyết định cho vay, thay vì chỉ dừng ở thông điệp chính sách. Tuy nhiên, phân biệt vốn phục vụ hoạt động sản xuất với vốn nuôi đầu cơ cần dựa trên mục đích, dòng tiền và khả năng trả nợ của từng dự án. Tăng trưởng tín dụng nóng vào lĩnh vực rủi ro có thể làm nợ xấu tăng và gây sức ép lên an toàn hệ thống. Vì vậy, không nên đánh đổi chất lượng khoản vay để đạt chỉ tiêu tăng trưởng ngắn hạn.
Cơ quan quản lý cho biết tín dụng toàn hệ thống tăng khoảng 12,27%, trong khi tín dụng bất động sản tăng khoảng 9,84%, thấp hơn mức chung. Những mức tăng này không tự nói lên khoản vay nào có ích hay rủi ro; điều quan trọng là ngân hàng thẩm định được vốn đi vào đâu và tạo nguồn trả nợ từ hoạt động nào. Khi doanh nghiệp vay để mua máy móc, đổi mới công nghệ hay mở rộng thị trường, tác động có thể lan tới việc làm và năng lực cạnh tranh. Ngược lại, cho vay dựa trên kỳ vọng tăng giá tài sản mà thiếu dòng tiền thực sẽ biến vốn phát triển thành rủi ro tích tụ. Nguyên tắc cần rõ: nới khả năng tiếp cận, không nới chuẩn đánh giá.
Ngân hàng không thể gánh một mình nhu cầu vốn
Dồn phần lớn nhu cầu đầu tư lên tín dụng ngân hàng tạo áp lực lên cả chi phí vốn lẫn an toàn hệ thống. Sáng 31/10, tại phiên giải trình trước Quốc hội về kế hoạch kinh tế – xã hội năm 2026 và dự kiến năm 2027, Bộ trưởng Tài chính Ngô Văn Tuấn và Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ấn làm rõ giải pháp huy động nguồn lực, phát triển thị trường vốn và cải thiện khả năng doanh nghiệp tiếp cận tín dụng. Trong chín tháng, huy động vốn trên thị trường tăng 15% so với cùng kỳ; phát hành trái phiếu và cổ phiếu ra công chúng tăng 60%, còn phát hành cổ phiếu riêng lẻ tăng 80%. Những kênh này cần được phát triển minh bạch để doanh nghiệp có thêm lựa chọn phù hợp với nhu cầu dài hạn, thay vì mặc định vay ngân hàng cho mọi dự án.
Kết luận nên bắt đầu từ trách nhiệm ở cấp thực thi: ngân hàng cần công khai tiêu chí, xử lý hồ sơ nhất quán, thẩm định năng lực kinh doanh và giám sát mục đích sử dụng vốn. Doanh nghiệp cũng phải nâng chất lượng thông tin để chứng minh dòng tiền và khả năng trả nợ. Thời gian tới, Ngân hàng Nhà nước cho biết sẽ khuyến khích cho vay dựa trên đánh giá năng lực thực tế và tạo cơ sở pháp lý để các tổ chức tín dụng triển khai. Song song, Bộ Tài chính tiếp tục tính toán phương án giá điện và báo cáo Chính phủ về việc lùi thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xăng, hướng tới đưa các sắc thuế đối với xăng dầu về 0%. Sau cùng, tăng trưởng không được đo bằng lượng vốn đã bơm ra, mà bằng khả năng biến vốn thành năng suất, việc làm và năng lực cạnh tranh mà vẫn giữ được an toàn tín dụng.






