Siêu đô thị TP.HCM: tầm vóc toàn cầu, thể chế vẫn là điểm nghẽn
Siêu đô thị TP.HCM sau sáp nhập là một không gian đô thị đa cực, quy mô lớn hơn nhiều thành phố hàng đầu khu vực, đòi hỏi năng lực quản trị đô thị thông minh, cải cách thể chế TPHCM và đầu tư hạ tầng đô thị TP.HCM tương xứng để bảo đảm phát triển đô thị bền vững, nếu không sẽ biến lợi thế quy mô thành gánh nặng quản lý và rủi ro tụt hậu. Nghị quyết 09 đặt tham vọng đưa TP.HCM trở thành siêu đô thị nổi trội Đông Nam Á vào năm 2030 và đô thị toàn cầu vào năm 2075, với tăng trưởng hai con số. Nhưng sau sáp nhập, thành phố rộng khoảng 6.772 km2, lớn hơn Thượng Hải, với 13,5 triệu dân và đóng góp 24% GDP cả nước, trong khi “chiếc áo” cơ chế vẫn là của một đô thị truyền thống. Các chuyên gia cảnh báo nếu thể chế không đổi mới, hạ tầng còn nghẽn và vốn tư nhân chưa được khơi thông, cơ hội sẽ vuột mất ngay trong giai đoạn bản lề này.
Quản trị đô thị thông minh: luật mới tạo khung, cơ chế thực thi còn yếu
Để một siêu đô thị vận hành hiệu quả, quản trị đô thị thông minh không thể chỉ là vài trung tâm điều hành hiện đại, mà phải là một hệ sinh thái thể chế, dữ liệu và tài chính đồng bộ. Luật Phát triển đô thị được ban hành với mục tiêu tạo khung thể chế mới, phân cấp mạnh hơn cho TP.HCM – một đô thị đặc biệt – nhằm giải quyết điểm nghẽn, mở khóa và huy động tối đa nguồn lực, hình thành các mô hình kinh tế mới. Theo phân tích chuyên gia, luật này giúp xây dựng các công cụ tài chính và cơ chế tổ chức phù hợp với mục tiêu phát triển đô thị bền vững, thông minh và hướng tới Net-Zero. Thành phố có thể phát hành trái phiếu đô thị, trái phiếu dự án, cấp phép ngân hàng đầu tư và các dịch vụ tài chính thế hệ mới để tạo xung lực tăng trưởng. Tuy nhiên, quy định chỉ là khung; nếu bộ máy không dám làm, không dám quyết vì sợ sai, thì khung thể chế ưu việt cũng bị vô hiệu hóa.

Hạ tầng đô thị TP.HCM: phải chạy trước một bước, nếu không sẽ triệt tiêu lợi thế
Một siêu đô thị không thể dựa trên hạ tầng chắp vá. Sau sáp nhập, cấu trúc vùng chuyển sang đa cực: TP.HCM là “bộ não” tài chính, Bình Dương là cứ điểm công nghiệp, Bà Rịa – Vũng Tàu là cửa ngõ logistics cảng biển. Thế nhưng Cái Mép – Thị Vải, Cần Giờ, Cát Lái và các cảng sông vẫn chưa phát huy hết lợi thế vì thiếu mạng lưới vận tải đồng bộ. Đến năm 2030, thành phố phải hoàn thành 255 km metro, khép kín vành đai 3 và 4, giải tỏa 41.000 căn nhà ven kênh rạch và xây gần 200.000 căn nhà ở xã hội – một khối lượng hạ tầng khổng lồ nếu so với năng lực hiện tại. Chống ngập, thoát nước, cải tạo kênh rạch mang lại lợi ích rộng nhưng khó thu phí, nên ngân sách phải giữ vai trò chủ đạo. Nếu hạ tầng vận tải và hạ tầng xã hội không “chạy trước một bước”, chi phí logistics và chi phí sống sẽ bào mòn sức cạnh tranh của toàn vùng.
Vốn tư nhân và sức ỳ thể chế: điểm nghẽn của mọi điểm nghẽn
TP.HCM không thiếu tiền, nhưng thiếu khả năng làm cho tiền quay nhanh và đi đúng chỗ. Vốn đầu tư toàn xã hội chiếm 36 – 38% GDP, song vòng quay tiền tệ vẫn chậm, doanh nghiệp nội địa khó tìm đầu ra trong bối cảnh thương mại toàn cầu biến động và chủ nghĩa bảo hộ gia tăng. Nhiều dự án hạ tầng và đô thị trị giá hàng trăm nghìn tỷ đồng nằm im vì vướng pháp lý và tâm lý sợ sai – sức ỳ của thể chế cũ trở thành “điểm nghẽn của mọi điểm nghẽn”. Muốn huy động được vốn tư nhân dài hạn, thành phố phải xây dựng niềm tin dài hạn, với luật chơi rõ ràng, ổn định và quy trình hành chính minh bạch. Luật Phát triển đô thị đã mở ra khả năng phân cấp, giao quyền và mở rộng tự chủ để xử lý nhanh các vấn đề đất đai, hạ tầng, phát triển ngành ưu tiên và thu hút nhân lực chất lượng cao, nhưng nếu không có cải cách thể chế TPHCM thực chất, dòng vốn tư nhân sẽ tiếp tục đứng ngoài cuộc.
Từ tham vọng đến hiện thực: xây siêu năng lực quản trị cho phát triển bền vững
Tham vọng siêu đô thị chỉ có ý nghĩa nếu người dân được hưởng một không gian sống an toàn trước biến đổi khí hậu, giao thông thuận tiện, dịch vụ công hiệu quả và cơ hội việc làm chất lượng. Biến đổi khí hậu, triều cường và sụt lún đang đe dọa một siêu đô thị có thể “chìm” cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng nếu thoát nước và hạ tầng thích ứng không được ưu tiên. TP.HCM đã đầu tư mạnh vào hạ tầng số với hàng nghìn trạm 5G, trung tâm dữ liệu, nền tảng dùng chung và trung tâm vận hành thông minh để phục vụ quản trị đô thị thông minh. Thành phố cũng xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, quỹ đầu tư mạo hiểm và định hướng phát triển công nghiệp, logistics, năng lượng, công nghệ cao làm nền tảng cho chuyển đổi số và phát triển đô thị bền vững. Nhưng “siêu năng lực” quản trị không chỉ nằm ở công nghệ, mà ở khả năng dám phân quyền, dám chịu trách nhiệm và dám thử mô hình mới. Nếu không, siêu đô thị sẽ chỉ là danh xưng trên giấy, còn đời sống người dân vẫn bị kìm hãm bởi tắc đường, ngập nước và thủ tục rườm rà.






