Mạng lưới đường là nền tảng của sinh kế miền núi
Giao thông nông thôn là mạng lưới đường và công trình đi lại kết nối khu dân cư với dịch vụ thiết yếu, vùng sản xuất và thị trường, qua đó quyết định khả năng lưu thông hàng hóa và tiếp cận cơ hội sinh kế. Với địa bàn rộng, địa hình chia cắt, Lào Cai không thể xem việc hoàn thiện đường miền núi là hạng mục phụ: một đoạn đường thiếu an toàn có thể cô lập cả cộng đồng. Toàn tỉnh hiện có hơn 15.000 km đường giao thông nông thôn, khoảng 73% đã được cứng hóa; gần 4.000 km đường đất và đường cấp phối vẫn cần đầu tư, nâng cấp. Quy mô còn lại cho thấy bài toán không chỉ là xây thêm, mà phải chọn đúng tuyến và bảo đảm công trình hữu ích quanh năm.
Hệ quả của mạng lưới yếu hiện rõ trong đời sống thường ngày. Đường hẹp khiến xe vận tải khó vào vùng nguyên liệu, làm tăng chi phí lưu thông; sạt lở hoặc ngầm tràn hư hỏng có thể cắt đường đến trường, cơ sở khám chữa bệnh và thị trường. Vì vậy, chất lượng đường không nên được đánh giá chỉ bằng chiều dài đã làm. Tiêu chí quan trọng hơn là người dân đi lại có thuận lợi không, hàng hóa có ra khỏi bản đúng lúc không và tuyến đường có duy trì được kết nối khi mưa lớn hay không.

Nguồn lực công cần đi cùng sự tự nguyện của người dân
Trong bối cảnh khối lượng cần làm lớn còn ngân sách phải chia cho nhiều nhiệm vụ, Lào Cai chọn cách Nhà nước hỗ trợ, người dân góp đất, ngày công, vật liệu và kinh phí theo khả năng, trên nguyên tắc tự nguyện, công khai, minh bạch. Đây là lựa chọn phù hợp với địa bàn miền núi, nơi sự đồng thuận tại chỗ có thể tháo gỡ vướng mắc mặt bằng và giúp công trình bám sát nhu cầu. Tuy nhiên, huy động sức dân chỉ bền vững khi người dân được giải thích rõ lợi ích, mức đóng góp và cách sử dụng nguồn lực; sự tham gia không thể trở thành gánh nặng hay điều kiện để tiếp cận hạ tầng thiết yếu.
Giai đoạn 2021–2025, người dân trong tỉnh đóng góp khoảng 1.380 tỷ đồng cho giao thông nông thôn. Riêng năm 2026, các địa phương đăng ký 651 công trình, tổng chiều dài 736 km; đợt đầu theo Nghị quyết số 22 của HĐND tỉnh khởi công hơn 200 công trình, dài khoảng 262 km, với kinh phí tỉnh hỗ trợ khoảng 374,3 tỷ đồng. Những con số này cho thấy mô hình phối hợp đã tạo quy mô triển khai đáng kể, nhưng thành công không nên đo bằng số tiền hay công trình đơn thuần. Trách nhiệm giải trình và chất lượng thi công mới quyết định niềm tin cộng đồng có được duy trì.

Ưu tiên tuyến đường nối vùng nguyên liệu với thị trường
Lào Cai có thế mạnh về quế, chè, cây ăn quả, nông nghiệp hàng hóa và du lịch cộng đồng; bởi vậy, giao thông yếu có thể làm giảm giá trị của cả khoản đầu tư vào giống, phân bón và công chăm sóc. Tuyến kết nối vùng sản xuất tốt giúp đưa vật tư vào thuận lợi hơn, đưa nông sản ra thị trường nhanh hơn và giảm trở ngại cho hoạt động kinh tế địa phương. Quan điểm “đường giao thông phải đi trước, để mở lối cho sản xuất” nên được biến thành nguyên tắc lựa chọn dự án, thay vì khẩu hiệu: cần ưu tiên đường nối khu dân cư với vùng trồng tập trung, nơi đang gặp khó trong vận chuyển.
Cách làm này cũng giúp chuyển trọng tâm từ số kilômét sang hiệu quả phục vụ: tuyến đường tiếp cận được bao nhiêu hộ, nối vùng nguyên liệu nào, tháo gỡ nút thắt vận tải ra sao. Một con đường ngắn nhưng mở được lối cho nhiều hộ sản xuất có thể đáng ưu tiên hơn công trình dài mà ít tạo thêm kết nối. Đó là thước đo thực chất để đường nông thôn Lào Cai trở thành hạ tầng phát triển, chứ không chỉ là sản phẩm xây dựng.

Mục tiêu dài hạn đòi hỏi chọn dự án và giám sát chặt
Theo định hướng đến năm 2030, tỉnh phấn đấu kiên cố hóa ít nhất 2.500 km đường giao thông nông thôn, nâng tỷ lệ nhựa hóa, bê tông hóa mặt đường tại các xã vượt 80%, nâng cấp ít nhất 350 km đường xã và liên xã, đồng thời xây dựng ít nhất 100 cầu thay thế cầu treo, cầu tạm, ngầm tràn. Mục tiêu này cho thấy đầu tư đường phải đi cùng xử lý các điểm nghẽn về cầu và thoát nước, nếu không mạng lưới vẫn có thể bị chia cắt. Trong thời gian tới, tỉnh dự kiến cụ thể hóa định hướng bằng kế hoạch trung hạn, kế hoạch hằng năm và danh mục ưu tiên theo từng địa bàn.
Lào Cai đã cho thấy nguồn lực công có thể được khuếch đại khi cộng đồng đồng thuận, nhưng không nên mặc định mọi địa phương đều có cùng khả năng đóng góp. Ưu tiên ngân sách cần dựa trên mức độ cấp thiết, lợi ích sản xuất và khả năng tiếp cận dịch vụ cơ bản; việc huy động dân phải minh bạch và phù hợp sức dân. Kết luận cần rõ: đường miền núi chỉ mở ra phát triển khi nối được người dân với trường học, y tế, vùng nguyên liệu và thị trường, đồng thời được lựa chọn và giám sát theo lợi ích thực tế.






