Cơ hội dịch chuyển đi kèm áp lực chứng minh xuất xứ
Chuỗi cung ứng toàn cầu là mạng lưới liên kết giữa doanh nghiệp, nhà cung cấp, cơ sở sản xuất và hoạt động vận chuyển qua nhiều quốc gia để tạo ra, đưa sản phẩm đến thị trường. Khi mạng lưới này dịch chuyển, Việt Nam có cơ hội đón đầu tư và mở rộng sản xuất, nhưng quy tắc xuất xứ khắt khe cũng khiến doanh nghiệp phải chứng minh rõ giá trị được tạo ra trong nước. Với hàng hóa nhập linh kiện từ nhiều nơi, nguồn gốc nguyên liệu không thể là căn cứ duy nhất để kết luận xuất xứ. Marc Knapper, cựu Đại sứ Mỹ tại Việt Nam, nhấn mạnh rằng theo luật hải quan Mỹ, xuất xứ phụ thuộc vào việc sản phẩm có trải qua chuyển đổi đáng kể về bản chất hay không, chứ không phải chủ sở hữu nhà máy hay xuất xứ từng linh kiện.
Ranh giới giữa sản xuất thực chất và gian lận phải được giữ rõ. Nhà máy tại Việt Nam có thể nhập linh kiện Trung Quốc, tạo thêm giá trị đáng kể rồi xuất khẩu thành phẩm mà không đồng nghĩa với chuyển tải bất hợp pháp. Ngược lại, thay nhãn xuất xứ để né thuế là hành vi gian lận cần bị xử lý. Hải quan Việt Nam đã tăng cường kiểm tra trước xuất khẩu và ký thỏa thuận với Cơ quan Hải quan và Bảo vệ Biên giới Mỹ vào tháng 6 để chia sẻ dữ liệu hàng hóa theo thời gian thực. Nhưng kiểm tra thôi chưa đủ: nếu tiêu chuẩn thiếu rõ ràng, nhà xuất khẩu làm ăn chân chính phải gánh thêm chi phí tuân thủ, còn nhà đầu tư có thể chùn bước. Năng lực cạnh tranh vì thế không chỉ nằm ở giá hay tốc độ sản xuất, mà còn ở khả năng chứng minh hồ sơ một cách nhất quán.

Muốn thành mắt xích đáng tin, phải tạo giá trị trong nước
Knapper không khuyên Việt Nam né các lĩnh vực cạnh tranh như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo hay đất hiếm để tìm nơi trú ẩn được cho là an toàn. Không ngành nào miễn nhiễm với chính sách thương mại; hơn nữa, mô hình dựa lâu dài vào sản xuất biên lợi nhuận thấp sẽ làm tăng rủi ro cơ cấu. Ông lưu ý Việt Nam có thể chỉ còn khoảng mười năm hoặc ít hơn trước khi lực lượng lao động già hóa làm suy giảm sức hấp dẫn của một trung tâm sản xuất. Vì vậy, đích đến không nên là nhận thêm nhà máy bằng mọi giá, mà là khiến doanh nghiệp trong nước tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng. Nghị quyết 10 đặt mục tiêu đưa 10.000 doanh nghiệp Việt Nam vào chuỗi cung ứng của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và nâng tỷ lệ nội địa hóa ở các ngành công nghiệp chủ chốt lên 45–50% vào năm 2030.
Để mục tiêu ấy thành năng lực thực tế, Knapper đưa ra ba hướng: xử lý nghiêm gian lận, đầu tư hệ thống truy xuất để doanh nghiệp tuân thủ nhanh chóng chứng minh xuất xứ, phát triển sâu chuỗi cung ứng nội địa và làm việc với Washington để xây dựng tiêu chuẩn rõ ràng, công khai, có thể kiểm chứng. Đây là chương trình hành động hợp lý hơn việc chỉ tranh luận về thuế hay quốc tịch của chủ nhà máy. Chính sách trong nước cũng phải dự báo được, nhất quán và minh bạch để nhà đầu tư có thể tính toán dài hạn. Cơ hội công nghệ cao sẽ không tự chuyển thành năng lực cạnh tranh nếu doanh nghiệp Việt chỉ đứng ngoài, cung cấp lao động hoặc dịch vụ đơn giản. Liên kết nhà cung cấp, kỹ năng sản xuất và hệ thống truy xuất cần được xây cùng lúc.
Xuất khẩu sang Trung Quốc đòi hỏi quản trị từ đầu đến cuối
Thị trường Trung Quốc mở ra dư địa lớn, nhưng đơn hàng không bảo đảm xuất khẩu bền vững. Tại hội thảo về quản lý rủi ro trong xúc tiến thương mại và kinh doanh với thị trường này do Bộ Công Thương tổ chức, ông Bùi Quang Hưng, Phó Cục trưởng Cục Xúc tiến thương mại, nhấn mạnh yêu cầu chuyển từ giao thương dựa vào kinh nghiệm đơn lẻ sang xuất khẩu chính ngạch, chuyên nghiệp và có kế hoạch dài hạn. Một lô hàng mắc lại ở cửa khẩu có thể phát sinh chi phí lưu kho, lưu bãi, vận chuyển, đồng thời ảnh hưởng chất lượng, uy tín và quan hệ với đối tác. Doanh nghiệp cần chọn đúng phân khúc vì nhu cầu ở Bắc Kinh, Thâm Quyến hay Thành Đô không giống nhau; lợi thế giá rẻ không thể thay thế chất lượng ổn định và hiểu biết thị trường.
Quản trị toàn chuỗi bắt đầu từ khâu thẩm định đối tác, hợp đồng và thanh toán, rồi nối liền sản xuất, chứng từ, kiểm dịch, đóng gói và vận tải. Doanh nghiệp cần xác minh khách hàng trên sàn B2B, kiểm tra mã số và lịch sử tranh chấp, đồng thời phối hợp chặt giữa bộ phận hàng hóa, logistics và thanh toán. Với hàng thuộc diện quản lý, cần rà soát Lệnh 280, gồm 17 nhóm mặt hàng rủi ro, trước khi ký hợp đồng; chứng từ xuất xứ mẫu E theo ACFTA, tên hàng, mã HS và hóa đơn phải thống nhất để tránh mất ưu đãi thuế quan. Bà Triệu Thị Thúy Nga cho biết phương án tập kết phù hợp có thể tăng hiệu suất khoảng 30%, giảm chi phí 20%; tuyến nhanh nhất từ Trùng Khánh đến Hà Nội mất ba ngày, còn tuyến lạnh hoặc chuyến chiều về được kỳ vọng giảm khoảng 10% chi phí. Cục Xúc tiến thương mại sẽ tiếp tục hỗ trợ doanh nghiệp về xúc tiến và quản trị rủi ro.

Lợi thế bền vững nằm ở năng lực thực thi
Các tín hiệu tích cực không nên khiến doanh nghiệp nhầm cơ hội với bảo đảm thành công. Thành phố Hồ Chí Minh tăng 28 bậc trong Chỉ số Trung tâm Tài chính toàn cầu năm nay, nhưng sức hút đầu tư và vị thế trung tâm chỉ có ý nghĩa dài hạn nếu đi cùng nền sản xuất có năng lực, nhà cung cấp nội địa đủ chuẩn và môi trường quy định dễ dự đoán. Tương tự, thị trường Trung Quốc đông dân không phải một thị trường đồng nhất; quy cách, truy xuất nguồn gốc, mã số vùng trồng và kiểm dịch đều có thể quyết định lô hàng có thông quan hay không. Doanh nghiệp cần coi hồ sơ xuất xứ và tiêu chuẩn chất lượng là một phần của sản phẩm, không phải giấy tờ xử lý vào phút cuối.
Việt Nam giữ được lợi thế khi vừa làm rõ cách xác định xuất xứ, vừa tạo thêm giá trị trong nước và giúp doanh nghiệp quản lý chuỗi từ nhà cung cấp đến khách hàng. Điều đó đòi hỏi phối hợp giữa chính sách minh bạch, hệ thống truy xuất đáng tin và doanh nghiệp có kỷ luật trong chứng từ, chất lượng, logistics lẫn thanh toán. Nếu chỉ cạnh tranh bằng chi phí thấp, Việt Nam sẽ dễ bị thay thế khi thương mại đổi chiều. Nếu chứng minh được sản phẩm được sản xuất và kiểm soát ra sao, doanh nghiệp có thể biến yêu cầu tuân thủ thành lợi thế tiếp cận thị trường. Mắt xích đáng tin không phải mắt xích đứng ngoài biến động, mà là nơi đối tác biết rõ hàng hóa được tạo ra thế nào và có thể kiểm chứng điều đó.






