Một chiến lược lấy chất lượng sống của trẻ làm thước đo
Chiến lược quốc gia về phát triển trẻ em là khuôn khổ chính sách đặt mục tiêu bảo đảm quyền, sức khỏe, giáo dục và sự phát triển toàn diện của trẻ trong một môi trường an toàn, thân thiện và hạnh phúc. Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà đã ký Quyết định số 2033/QĐ-TTg phê duyệt chiến lược áp dụng giai đoạn 2026–2035, tầm nhìn đến năm 2045. Điểm đáng chú ý là văn bản không xem bảo vệ trẻ như một lĩnh vực tách biệt: cơ hội học tập, chăm sóc sức khỏe, vui chơi và phát triển kỹ năng đều gắn với chất lượng sống. Đến năm 2030, mục tiêu là trẻ được thực hiện đầy đủ quyền và tiếp cận công bằng các dịch vụ chất lượng; tầm nhìn 2045 mở rộng cam kết ấy tới mọi trẻ em. Đây là cách tiếp cận đúng: môi trường an toàn cho trẻ phải được tạo nên từ các dịch vụ và cơ hội hằng ngày, không chỉ từ việc xử lý sự cố.
Tính cấp thiết nằm ở khoảng cách giữa quyền được bảo vệ và khả năng tiếp cận dịch vụ, nhất là với trẻ có hoàn cảnh đặc biệt hoặc sống tại địa bàn khó khăn. Chiến lược gắn đầu tư cho trẻ với chất lượng nguồn nhân lực tương lai và mục tiêu phát triển bền vững, nhưng điều đó chỉ có ý nghĩa nếu nhóm dễ bị bỏ lại phía sau được ưu tiên trong triển khai. Nói cách khác, thành công không nên chỉ được đánh giá qua số lượng chương trình hay văn bản ban hành; cần nhìn vào việc trẻ có được chăm sóc, học tập và phát triển bình đẳng hơn hay không.

Các mục tiêu có mốc đo lường cụ thể
Chiến lược đưa ra những chỉ tiêu cụ thể để biến cam kết thành việc có thể theo dõi. Tỷ suất tử vong ở trẻ dưới một tuổi được đặt mục tiêu giảm xuống dưới 10 trên 1.000 trẻ đẻ sống vào năm 2030 và dưới 8 vào năm 2035; tỷ lệ tiêm chủng trong Chương trình tiêm chủng mở rộng phải vượt 95% vào năm 2030 và duy trì trên mức đó đến năm 2035. Ở giáo dục, các mục tiêu gồm tỷ lệ huy động trẻ vào giáo dục mầm non đạt 97% từ năm 2030 và duy trì ít nhất mức này đến năm 2035, đồng thời 95% học sinh được giáo dục kỹ năng sống và kỹ năng số vào năm 2035. Những con số này hữu ích vì chúng buộc việc thực hiện phải được kiểm tra theo thời hạn. Tuy vậy, tỷ lệ cao chỉ phản ánh tiến bộ khi đi cùng chất lượng dịch vụ và khả năng tiếp cận thực chất.
Tác động gần gũi với gia đình nằm ở hỗ trợ chăm sóc và cơ hội học tập bao trùm. Chiến lược hướng tới việc trang bị kiến thức, kỹ năng nuôi dạy con cho 85% cha mẹ và người chăm sóc vào năm 2030, tăng lên 95% vào năm 2035; đồng thời chú trọng giúp trẻ đến trường, duy trì việc học, giảm bỏ học và mở rộng giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật. Đây là phần cần được chuyển thành hỗ trợ dễ tiếp cận, thay vì để gia đình tự xoay xở. Chỉ tiêu về giảm tử vong, tiêm chủng hay huy động đến trường cũng đòi hỏi dữ liệu minh bạch để công chúng biết địa phương nào tiến bộ, nơi nào cần bổ sung nguồn lực.

Bảo vệ trẻ trực tuyến phải là trách nhiệm chung
Việc đưa bảo vệ trẻ em trực tuyến vào chiến lược là cần thiết vì rủi ro trên mạng có thể kéo theo tổn hại ngoài đời: xâm hại, lừa đảo, bắt nạt, dụ dỗ và bóc lột. Quyết định yêu cầu phối hợp phòng ngừa, phát hiện và xử lý các nguy cơ này, kể cả rủi ro mới phát sinh từ công nghệ số; đồng thời kết nối cơ quan có thẩm quyền, gia đình, nhà trường và doanh nghiệp cung cấp dịch vụ số để hỗ trợ trẻ kịp thời. Cách đặt trách nhiệm liên ngành là hợp lý: không thể giao toàn bộ gánh nặng cho trẻ hoặc phụ huynh, trong khi nền tảng và dịch vụ số cũng có vai trò trong việc nhận diện, chuyển tiếp và xử lý nguy cơ. Nhưng phối hợp chỉ có tác dụng khi mỗi bên biết rõ đầu mối, quy trình và thời hạn phản hồi.
Chiến lược còn đặt nền tảng ứng phó ở cấp cơ sở: đến năm 2027, tất cả xã, phường và khu vực đặc biệt phải bố trí người làm công tác trẻ em, đồng thời có kênh tiếp nhận, kết nối và xử lý thông tin bảo vệ trẻ; khả năng tiếp cận Tổng đài quốc gia bảo vệ trẻ em 111 và cơ chế xử lý thông tin khẩn cấp phải được duy trì đến năm 2035. Với trẻ gặp nguy hiểm trên mạng, đầu mối dễ tìm có thể quyết định việc được trợ giúp sớm hay không. Gia đình và nhà trường cần giúp trẻ nhận biết rủi ro, biết cách tìm hỗ trợ và không bị trách phạt khi lên tiếng. Doanh nghiệp dịch vụ số cần phối hợp xử lý thông tin, thay vì coi an toàn trẻ em chỉ là việc của cơ quan quản lý.

Triển khai mới là phép thử quyết định
Tám nhóm nhiệm vụ của chiến lược trải từ hoàn thiện chính sách, chăm sóc sức khỏe và nâng cao chất lượng giáo dục đến bảo vệ trẻ, thúc đẩy quyền tham gia, chuyển đổi số, truyền thông, huy động nguồn lực và hợp tác quốc tế. Phạm vi rộng này phù hợp với mục tiêu phát triển toàn diện, nhưng cũng tạo nguy cơ trách nhiệm bị phân tán nếu thiếu điều phối và giám sát. Việc chuẩn hóa, cập nhật, kết nối và chia sẻ dữ liệu trẻ em cần đi kèm bảo vệ thông tin cá nhân và cơ chế sử dụng rõ ràng. Các chỉ tiêu về giảm bạo lực, xâm hại, lao động trẻ em và tai nạn cũng phải được theo dõi liên tục, không chỉ tổng kết vào cuối kỳ.
Chiến lược có điểm mạnh là kết nối quyền trẻ em với sức khỏe, giáo dục, kỹ năng số và an toàn trong đời sống thường nhật. Tuy nhiên, mục tiêu chỉ trở thành môi trường an toàn cho trẻ khi nguồn lực đến được nơi thiếu thốn, đầu mối địa phương hoạt động thực chất và trẻ có thể tiếp cận dịch vụ mà không gặp rào cản. Cần công khai tiến độ theo từng mốc, làm rõ cơ quan chịu trách nhiệm và có cách tiếp nhận phản hồi từ trẻ cùng gia đình. Kết luận, đây là định hướng đáng kỳ vọng; thước đo cuối cùng không phải số nhiệm vụ đã liệt kê, mà là trẻ có an toàn hơn, được lắng nghe và có cơ hội phát triển công bằng hơn hay không.






