Quy mô lớn, liên kết còn mỏng
Liên kết sản xuất ASEAN là sự phối hợp giữa các nền kinh tế thành viên để phân công công đoạn, kết nối nhà cung ứng và lưu chuyển hàng hóa trong cùng một mạng lưới khu vực. Đây là nền tảng để ASEAN giữ lại nhiều giá trị hơn thay vì chỉ làm nơi sản xuất hướng ra thị trường bên ngoài. Ngày 27-10, Trung tâm Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tại TP.HCM phối hợp với Diễn đàn Kinh tế Thế giới tổ chức phiên thảo luận về định vị Việt Nam và ASEAN trong chuỗi giá trị toàn cầu, đặt đúng câu hỏi về chất lượng tăng trưởng của khu vực. ASEAN có gần 700 triệu dân và quy mô kinh tế khoảng 4.000 tỷ USD, nhưng thương mại nội khối chỉ chiếm khoảng 22% kim ngạch xuất khẩu, so với khoảng 60% ở EU. Khoảng cách này cho thấy quy mô chưa tự chuyển hóa thành sức mạnh chung. Khi chuỗi giá trị toàn cầu đang được tổ chức lại, tiếp tục dựa quá nhiều vào nhu cầu bên ngoài khiến các nền kinh tế trong khu vực dễ tổn thương trước biến động thị trường và chính sách thương mại.

Xuất khẩu mạnh chưa đồng nghĩa giữ được giá trị
Thước đo thành công không thể chỉ là hàng xuất khẩu tăng hay vốn đầu tư tiếp tục đổ vào. Vấn đề là bao nhiêu công đoạn có giá trị cao và bao nhiêu cơ hội sản xuất được giữ lại trong doanh nghiệp nội địa. Theo chuyên gia Ngân hàng Thế giới Sacha Dray, doanh nghiệp FDI và các nhà xuất khẩu lớn chưa lan tỏa tương xứng tới mạng lưới nhà cung ứng trong nước; ASEAN cần tăng sự tham gia của doanh nghiệp nội địa vào các công đoạn sản xuất để giữ lại nhiều giá trị hơn. Nếu nhà cung ứng địa phương chỉ đứng ngoài những khâu then chốt, quy mô xuất khẩu có thể lớn mà năng lực công nghệ, sáng tạo và lợi ích lan tỏa vẫn hạn chế. Bởi vậy, nâng vị trí trong chuỗi giá trị toàn cầu đòi hỏi chính sách phát triển nhà cung ứng, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa cải thiện năng lực, đồng thời tạo cầu nối thực chất giữa nhà đầu tư lớn với doanh nghiệp bản địa. Thu hút vốn là điều kiện cần, không phải kết quả cuối cùng.

Từ cụm công nghiệp đến mạng lưới sản xuất bổ trợ
ASEAN nên thôi theo đuổi những chuỗi sản xuất khép kín ở từng quốc gia. Thay vào đó, mỗi nền kinh tế có thể đảm nhận công đoạn phù hợp với lợi thế về nguyên liệu, linh kiện, lắp ráp hoặc logistics, rồi kết nối thành năng lực cạnh tranh chung. Tại phiên thảo luận, bà Phạm Quỳnh Mai, Phó Vụ trưởng thuộc Bộ Công Thương, đề xuất hình thành các cụm công nghiệp xuyên biên giới trong những ngành như điện tử, bán dẫn, ô tô và năng lượng sạch. Cách tiếp cận này có thể mở rộng đầu ra cho nhà cung ứng trong khu vực và giảm rủi ro khi một mắt xích gặp gián đoạn. Nhưng khu công nghiệp chung sẽ không phát huy tác dụng nếu hàng hóa vẫn vướng thủ tục, tiêu chuẩn thiếu đồng bộ hoặc quy tắc xuất xứ khó áp dụng. Phát triển mạng lưới nhà cung ứng cần đi cùng tháo gỡ rào cản phi thuế quan, hài hòa tiêu chuẩn và đơn giản hóa thủ tục thương mại xuyên biên giới.
Việt Nam cần làm cầu nối, không chỉ là điểm đến đầu tư
Việt Nam có vai trò thiết thực nếu chuyển từ cạnh tranh thu hút dự án riêng lẻ sang xây dựng năng lực kết nối doanh nghiệp trong nước với chuỗi cung ứng ASEAN. Chương trình phát triển nhà cung ứng và việc nghiên cứu lập quỹ hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa nâng cao năng lực sản xuất là những hướng được bà Phạm Quỳnh Mai nêu ra. Đây nên là trọng tâm chính sách: giúp doanh nghiệp đáp ứng tiêu chuẩn, chất lượng và yêu cầu giao hàng của các mạng lưới khu vực, thay vì chỉ kỳ vọng lợi ích tự lan tỏa từ FDI. Doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng phải xử lý những đơn hàng đa dạng hơn, giữ linh hoạt mà vẫn kiểm soát chất lượng và chi phí. Khi Việt Nam chủ động kết nối nhà cung ứng, năng lực sản xuất và hợp tác xuyên biên giới, nước này có thể góp phần nâng vị thế chung của ASEAN. Liên kết nội khối không phải mục tiêu trang trí; đó là con đường để tăng giá trị nội địa và sức chống chịu.







