Biến giá trị của rừng thành nguồn lực chung
Chi trả dịch vụ môi trường rừng là cơ chế theo đó các đơn vị sử dụng lợi ích từ rừng đóng góp tài chính, tạo nguồn thu cho những tổ chức và cộng đồng tham gia bảo vệ, phát triển rừng. Ở Lâm Đồng, đây không còn là khoản hỗ trợ bên lề mà đã trở thành một công cụ kinh tế đáng kể: nguồn lực bảo vệ rừng được mở rộng khỏi ngân sách nhà nước, còn trách nhiệm giữ rừng được gắn với lợi ích cụ thể của người dân.
Hằng năm, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh thu ủy thác, quản lý và tham mưu điều tiết gần 500 tỷ đồng từ hơn 130 đơn vị sử dụng dịch vụ môi trường rừng, phục vụ khoảng 700.000 ha rừng. Năm 2025, tổng thu vượt 529 tỷ đồng, trong đó 470 tỷ đồng được giải ngân cho bên cung ứng. Quy mô ấy cho thấy chi trả dịch vụ rừng đã trở thành một dòng tài chính có sức nặng, nhưng hiệu quả cuối cùng vẫn phụ thuộc vào việc tiền đến đúng nơi và tạo ra kết quả bảo vệ rừng có thể kiểm chứng.

Sinh kế khiến trách nhiệm giữ rừng trở nên thiết thực
Chính sách được triển khai từ năm 2013, bổ sung lợi ích kinh tế cho một trách nhiệm vốn đã gắn bó lâu đời với nhiều cộng đồng. Tại bon Bu N’đơr B, cộng đồng nhận khoán bảo vệ hơn 1.000 ha rừng; mỗi thành viên Ban Quản lý rừng cộng đồng nhận từ 3 đến 4 triệu đồng mỗi quý. Khoản thu này góp phần cải thiện đời sống mà không tách việc giữ rừng khỏi những quy ước và truyền thống địa phương.
Ở Lạc Dương, Cil Yă Ha Ni Kốp nhận quản lý, bảo vệ 30 ha rừng thuộc lâm phần Vườn Quốc gia Bidoup - Núi Bà. Anh cho biết gia đình dùng tiền chi trả để mua phân bón và cây giống; sau hai năm tham gia, gia đình thoát nghèo và hai con được đi học đầy đủ. Năm 2025, có 14.395 hộ nhận khoán bảo vệ rừng tại các chủ rừng nhà nước; với diện tích từ 20 đến 30 ha mỗi hộ, nguồn thu ổn định đạt 12–18 triệu đồng mỗi năm. Đây là động lực thực tế để giảm áp lực mưu sinh lên rừng.

Lợi ích kinh tế chỉ bền khi rừng còn nguyên giá trị
Giá trị của cơ chế không dừng ở thu nhập hộ gia đình. Nguồn chi trả giúp các đơn vị lâm nghiệp duy trì tuần tra, ngăn săn bắt động vật hoang dã, khai thác lâm sản trái phép và xâm lấn rừng; đồng thời đầu tư thiết bị, ứng dụng công nghệ giám sát, phục hồi hệ sinh thái suy thoái và theo dõi các loài quý hiếm. Đó là cách nguồn tiền gắn lợi ích kinh tế với những công việc cụ thể, thay vì xem bảo vệ rừng như một khẩu hiệu.
Mối liên hệ ấy cũng có lợi cho hoạt động sản xuất. Rừng được bảo vệ góp phần duy trì nguồn nước cho hồ chứa, hạn chế bồi lắng và nguy cơ sạt lở, điều tiết dòng chảy theo mùa; nhờ vậy, thủy điện có điều kiện vận hành ổn định hơn. Doanh nghiệp đóng góp cho dịch vụ môi trường rừng vì thế không chỉ thực hiện nghĩa vụ mà còn đầu tư vào nền tảng sinh thái phục vụ chính hoạt động của mình. Tuy nhiên, sự hài hòa này chỉ đáng tin khi khoản chi được theo dõi minh bạch và gắn với chất lượng rừng, không chỉ với diện tích được tính chi trả.

Minh bạch và giám sát sẽ quyết định chặng tiếp theo
Trong năm 2026, tỉnh đã tạm ứng hai lần hơn 81 tỷ đồng cho 239 đơn vị chủ rừng. Bước tiếp theo cần bảo đảm nguồn tiền được phân bổ đúng đối tượng và sử dụng đúng mục đích. Quỹ tỉnh cho biết sẽ tiếp tục rà soát diện tích đủ điều kiện, cập nhật thông tin người thụ hưởng và tăng cường kiểm tra việc quản lý, sử dụng kinh phí; đồng thời phối hợp với chủ rừng, chính quyền địa phương và kiểm lâm để tuyên truyền, nâng cao trách nhiệm, nhất là ở nơi còn nguy cơ vi phạm lâm luật.
Đây là điều kiện để cơ chế xã hội hóa giữ được tính chính danh: bên sử dụng dịch vụ thấy rõ đóng góp của mình quay lại bảo vệ hệ sinh thái, còn người nhận khoán có động lực và trách nhiệm lâu dài. Chi trả dịch vụ môi trường rừng ở Lâm Đồng đã cho thấy kinh tế có thể hỗ trợ mục tiêu môi trường, nhưng tiền không tự bảo vệ được rừng. Minh bạch, giám sát và kết quả sinh thái thực chất mới quyết định liệu nguồn lực hôm nay có tạo nền tảng cho phát triển rừng ngày mai hay không.







