Hậu kiểm phải phát hiện được vi phạm trước khi sản phẩm tràn lan
Hậu kiểm thực phẩm là việc cơ quan quản lý kiểm tra sản phẩm và hoạt động kinh doanh sau khi thực phẩm đã được đưa ra thị trường, nhằm phát hiện vi phạm, truy xuất nguồn gốc và bảo vệ người tiêu dùng. Vì vậy, hiệu quả của nó không thể đo bằng số quy định được ban hành mà bằng khả năng phát hiện sớm và xử lý đến cùng.
Chiều 24/10, tại phiên thảo luận tổ về dự án Luật An toàn thực phẩm, đại biểu Phạm Thu Xanh (Hải Phòng) nêu vụ gần 600 loại sản phẩm, gồm 573 nhãn sữa bột giả do Công ty Rance Pharma và Hacofood Group sản xuất, được tiêu thụ công khai suốt khoảng 4 năm. Theo thông tin bà dẫn, nhiều chỉ tiêu chất lượng chỉ đạt dưới 70% mức công bố, còn doanh thu gần 500 tỷ đồng.
Đây không chỉ là câu chuyện về một doanh nghiệp gian lận. Đại biểu cho rằng cơ chế tự công bố theo Nghị định 15 đã bị lợi dụng, trong khi hậu kiểm không theo kịp. Vụ sữa giả phơi bày khoảng cách giữa việc cho phép hàng hóa lưu thông và năng lực kiểm tra thực tế: nếu phát hiện quá muộn, người mua đã phải gánh rủi ro trong thời gian dài.

Kiểm tra theo nguy cơ, nhưng phải đủ năng lực thực thi
Siết hậu kiểm không đồng nghĩa kiểm tra dàn trải mọi cơ sở với cùng tần suất. Đại biểu Phạm Thu Xanh đề nghị xây dựng kế hoạch lấy mẫu định kỳ theo nhóm nguy cơ, kiểm tra đột xuất khi có cảnh báo hoặc dấu hiệu vi phạm, đồng thời quy định thời hạn xử lý và công khai kết quả khi đã có kết luận. Cơ sở tuân thủ tốt có thể được giảm tần suất kiểm tra; hàng hóa nguy cơ cao, tái phạm hoặc bị cảnh báo cần được giám sát nhiều hơn, chứ không được miễn kiểm tra.
Nhưng quy định chỉ có tác dụng khi cơ quan thực thi đủ người, thiết bị và dữ liệu. Qua khảo sát tại Bắc Ninh, cơ quan thẩm tra được phản ánh địa phương chưa có đơn vị kiểm nghiệm đầy đủ các thông số cần thiết. Nếu thiếu năng lực phân tích, lấy mẫu và đánh giá, hệ thống khó xác nhận sản phẩm có an toàn hay không; tăng yêu cầu trên văn bản khi nguồn lực chưa sẵn sàng còn có thể gây ách tắc cho doanh nghiệp. Luật vì thế cần gắn mức kiểm soát với khả năng kiểm nghiệm và trách nhiệm giải trình, thay vì chỉ đặt thêm thủ tục.
Quản lý thực phẩm online cần truy được người bán và nội dung quảng cáo
Thương mại điện tử, mạng xã hội và dịch vụ giao đồ ăn giúp người mua tiếp cận thực phẩm thuận tiện hơn, nhưng cũng khiến việc kiểm soát nguồn gốc thực phẩm khó hơn. Người bán có thể không có địa chỉ rõ ràng; thông tin về thành phần, xuất xứ và bảo quản có thể thiếu. Khi xảy ra sự cố, việc phân định trách nhiệm giữa người bán, nền tảng và đơn vị giao hàng cũng gặp trở ngại.
Đại biểu Nguyễn Thị Yến Nhi đề nghị làm rõ nghĩa vụ của từng mắt xích: người sản xuất, kinh doanh chịu trách nhiệm về chất lượng và an toàn; nền tảng phải yêu cầu công khai thông tin định danh, tiếp nhận phản ánh và phối hợp cung cấp dữ liệu để truy xuất; đơn vị vận chuyển phải bảo quản hàng đúng điều kiện cần thiết. Đây là hướng đi đúng: quản lý thực phẩm online không thể dừng ở việc gỡ một bài đăng nếu không xác định được ai bán hàng, sản phẩm từ đâu đến và ai chịu trách nhiệm khi người mua bị ảnh hưởng.
Quảng cáo cũng phải chịu hậu kiểm, trách nhiệm quản lý phải rõ
Đại biểu Nguyễn Văn Quảng đề nghị đưa những người quảng cáo thực phẩm vào diện hậu kiểm, đồng thời kiểm tra không chỉ việc tuân thủ quy định quảng cáo mà cả độ chính xác của nội dung họ truyền tải. Đại biểu Lê Thị Thanh Lam kiến nghị cấm đưa thông tin sai sự thật hoặc giả mạo kết quả thử nghiệm an toàn thực phẩm trên mạng; bà cũng nêu tác hại của quảng cáo gian dối thực phẩm chức năng, thực phẩm bảo vệ sức khỏe, trong đó có việc lợi dụng hình ảnh y, bác sĩ và cơ sở y tế uy tín.
Trách nhiệm cũng cần được xác định ở cấp quản lý. Đại biểu Nguyễn Thanh Hải cảnh báo tình trạng phân tán giữa các bộ, ngành có thể khiến khi xảy ra sự cố khó biết cơ quan nào chịu trách nhiệm đến cùng; một đầu mối quản lý phải đi kèm thẩm quyền, nguồn lực và trách nhiệm giải trình. Hậu kiểm chỉ đáng tin khi từ người bán, người quảng cáo, nền tảng đến cơ quan công quyền đều có nghĩa vụ rõ ràng. Bịt lỗ hổng ấy quan trọng hơn việc ban hành thêm quy định mà không ai đủ năng lực thực hiện.






