Tự chủ công nghệ: Thước đo mới cho cơ khí Việt Nam
Ngành cơ khí Việt Nam là tập hợp các hoạt động thiết kế, chế tạo, tích hợp hệ thống thiết bị và dịch vụ kỹ thuật phục vụ năng lượng, giao thông, khai khoáng, chế biến, chế tạo và quốc phòng, trong đó mức độ tự chủ về thiết kế sản phẩm công nghiệp, kiểm soát công nghệ và tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu quyết định vị thế của doanh nghiệp và nền kinh tế. Ngày nay, câu hỏi không còn là “sản xuất được bao nhiêu” mà là “làm chủ được những khâu nào” trong chuỗi giá trị. Một sản phẩm có thể dùng phần lớn linh kiện trong nước nhưng thiết kế tổng thể, phần mềm điều khiển và quyền quyết định công nghệ vẫn thuộc về đối tác nước ngoài. Nếu tiếp tục chấp nhận vai trò gia công, cơ khí Việt Nam khó có thể đạt mục tiêu cơ khí Việt Nam tự chủ trong tầm nhìn dài hạn.

Tăng trưởng sản lượng nhưng tụt hậu về năng lực doanh nghiệp cơ khí
Nhìn bề ngoài, cơ khí Việt Nam đang lớn lên nhanh: giai đoạn 2018–2025, tổng giá trị sản xuất tăng từ 1.626,3 nghìn tỷ đồng lên khoảng 3.225,5 nghìn tỷ đồng, gần gấp đôi sau bảy năm với tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng 10,3%/năm. Nhưng con số đẹp không che được thực tế là năng lực doanh nghiệp cơ khí trong nước phát triển không tương xứng. Tỷ trọng khu vực FDI trong tổng giá trị sản xuất ngành tăng từ 55% lên 61,6%, trong khi doanh nghiệp ngoài nhà nước chiếm 34% và khu vực nhà nước chỉ 1,1%. Năm 2025, xuất khẩu máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng đạt 1.557,7 nghìn tỷ đồng, song khu vực FDI nắm khoảng 93% giá trị. Nói thẳng, chúng ta sản xuất nhiều nhưng phần lớn giá trị gia tăng và quyền kiểm soát công nghệ vẫn nằm trong tay doanh nghiệp ngoại.

Nội địa hóa công nghệ: Bước đệm nhưng không phải điểm đến
Trong nhiều năm, tỷ lệ nội địa hóa được xem như thước đo chính cho thành công của ngành cơ khí. Tuy nhiên, tăng tỷ lệ linh kiện sản xuất trong nước không tự động biến thành cơ khí Việt Nam tự chủ về thiết kế và công nghệ. Một sản phẩm có chi phí sản xuất nội địa cao vẫn có thể phụ thuộc hoàn toàn vào bản vẽ, phần mềm, bộ điều khiển và quyền sở hữu công nghệ của đối tác nước ngoài. Nội địa hóa công nghệ vì thế phải được hiểu là quá trình tiếp nhận, hấp thụ và phát triển công nghệ thành năng lực nội tại của doanh nghiệp, chứ không chỉ là thay thế nhập khẩu bằng sản xuất trong nước. Theo TS. Vũ Văn Khoa, chiến lược mới cần chuyển trọng tâm từ nội địa hóa đơn thuần sang nâng cao năng lực tự chủ thiết kế, công nghệ chế tạo và tích hợp hệ thống. Nếu không, chúng ta chỉ đổi nhà cung cấp linh kiện mà không đổi được vị thế trong chuỗi giá trị.

Chiến lược 2035–2045: Gắn mục tiêu với năng lực thiết kế và dự án trọng điểm
Việc Viện Nghiên cứu Cơ khí chủ trì xây dựng Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2045 theo nhiệm vụ của Bộ Công Thương cho thấy yêu cầu cấp bách phải nâng cấp tư duy phát triển ngành. Hội thảo xây dựng Chiến lược có sự tham dự của lãnh đạo các cục chuyên môn, hiệp hội doanh nghiệp cơ khí và đại diện viện nghiên cứu, cơ sở đào tạo, doanh nghiệp, cho thấy nỗ lực gắn mục tiêu chiến lược với năng lực doanh nghiệp cơ khí thực tế. Dự thảo xác định trọng tâm là nâng cao năng lực thiết kế, chế tạo, tích hợp hệ thống và cung cấp dịch vụ kỹ thuật của doanh nghiệp trong nước, thay vì chỉ mở rộng sản lượng. Các mục tiêu cụ thể cũng chuyển sang đo lường khả năng làm chủ thiết kế và chế tạo: đến 2030, tỷ lệ làm chủ thiết kế và chế tạo dự kiến đạt 45%; đến 2035 là 55%; tầm nhìn 2045 hướng tới 75% cùng tỷ lệ nội địa hóa khoảng 60% và giá trị tăng thêm chiếm 45% giá trị sản xuất toàn ngành.
Từ gia công sang thiết kế: Đòi hỏi doanh nghiệp cơ khí dám lớn và dám học
Điểm nghẽn lớn nhất của cơ khí Việt Nam hiện nay nằm ở năng lực thiết kế tổng thể, tích hợp hệ thống và phát triển công nghệ độc lập. Phần lớn doanh nghiệp cơ khí nội địa có quy mô vừa và nhỏ, hạn chế về tài chính, trình độ công nghệ và khả năng liên kết. Trong khi đó, để thoát khỏi vị thế “làm thuê”, doanh nghiệp phải tích lũy năng lực cốt lõi: làm chủ thiết kế sản phẩm công nghiệp, lựa chọn giải pháp công nghệ, tổ chức chế tạo, tích hợp hệ thống và chịu trách nhiệm về chất lượng, hiệu quả vận hành. Theo một phân tích về tự chủ kinh tế, những doanh nghiệp “sếu đầu đàn” cần đủ tiềm lực để đầu tư dài hạn cho R&D, nhân lực chất lượng cao, công nghệ và thị trường, còn hệ thống doanh nghiệp vừa và nhỏ phải đủ năng lực tham gia sâu vào chuỗi sản xuất. Nếu doanh nghiệp cơ khí không dám đầu tư cho thiết kế, dữ liệu, phần mềm, mô phỏng, thử nghiệm và đội ngũ tổng công trình sư, mọi chiến lược sẽ chỉ dừng ở khẩu hiệu.






