Cần Thơ hạ tầng công nghiệp: Từ “thủ phủ lúa gạo” đến cực tăng trưởng mới
Cần Thơ hạ tầng công nghiệp là quá trình thành phố chuyển từ vai trò trung tâm hành chính – thương mại của Đồng bằng sông Cửu Long sang xây dựng một nền tảng công nghiệp, logistics và dịch vụ hỗ trợ sản xuất đa ngành, gắn với hệ thống khu công nghiệp, cảng sông, bến xe và các dự án năng lượng, nhằm trở thành cực tăng trưởng mới của toàn vùng trong giai đoạn chuyển đổi mô hình tăng trưởng.
Điểm xuất phát của Cần Thơ không hề dễ dàng. Dù là “thủ phủ” vùng, đến đầu năm 2025 thành phố mới có 5 khu công nghiệp đang hoạt động với diện tích đất cho thuê gần 330ha, tỷ lệ lấp đầy khoảng 88%. Quy mô này còn khiêm tốn so với tham vọng trở thành động lực tăng trưởng và cửa ngõ công nghiệp – logistics của cả vùng. Áp lực tăng tốc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, hướng tới tăng trưởng hai con số vì thế ngày càng lớn.
Trong bối cảnh đó, loạt dự án mới – từ nhà máy thép Tây Đô, khu công nghiệp Vĩnh Thạnh giai đoạn 2 đến hạ tầng bến xe, logistics ven sông Hậu – cho thấy Cần Thơ đã chọn chiến lược: mở rộng hạ tầng công nghiệp đa điểm, đa ngành, thay vì chỉ trông vào nông nghiệp và dịch vụ truyền thống.

Nhà máy thép Tây Đô: Bước đi chiến lược cho chuỗi cung ứng vật liệu xây dựng
Ngày 12-10, Sở Khoa học và Công nghệ Cần Thơ tổ chức Hội đồng thẩm định công nghệ cho dự án đầu tư Nhà máy luyện, cán thép Tây Đô do Công ty TNHH Thép Tây Đô thực hiện. Đây không chỉ là một dự án mở rộng đơn thuần, mà là lời khẳng định Cần Thơ muốn nắm vai trò mắt xích vật liệu xây dựng của toàn vùng.
Dự án đặt tại Khu công nghiệp Trà Nóc 2, nâng công suất từ 220.000 tấn/năm lên 500.000 tấn/năm. Công nghệ lò điện trung tần 50 tấn/mẻ, đúc liên tục, cán nóng liên tục cho phép vận hành theo quy trình khép kín, giảm giá thành 350.000-500.000 đồng mỗi tấn nhờ tiết kiệm 80% năng lượng nung. Đây là con số cho thấy nếu Cần Thơ muốn cạnh tranh, phải đi bằng công nghệ chứ không phải bằng lao động giá rẻ.
Với tổng vốn đầu tư 2.400 tỉ đồng và kế hoạch vận hành từ quý I-2029, nhà máy thép Tây Đô là “đòn bẩy kép”: vừa giải bài toán cung ứng thép chất lượng cao cho hạ tầng vùng, vừa tận dụng ưu thế đường thủy để giảm 20-40% chi phí logistics so với đường bộ. Nếu được triển khai đúng tiến độ, đây sẽ là một trụ cột quan trọng trong tham vọng xây dựng trung tâm logistics Cần Thơ.
Vĩnh Thạnh giai đoạn 2 và Châu Thành: Định hình cực công nghiệp – logistics ven sông Hậu
Tin vui đến với Cần Thơ ngay trước khi mở rộng không gian hành chính khi Thủ tướng phê duyệt chủ trương đầu tư Khu công nghiệp Vĩnh Thạnh – giai đoạn 2 (Phú Mỹ 3 Cần Thơ). Đầu năm 2025, UBND thành phố trao quyết định chấp thuận chủ trương, nhà đầu tư và giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho Công ty Cổ phần Thanh Bình Phú Mỹ.
Dự án gần 541ha, tổng vốn gần 8.000 tỉ đồng, được định hướng thành khu công nghiệp chuyên ngành với hạ tầng kỹ thuật đồng bộ, hiện đại, thân thiện môi trường. Khi hoàn thành, Phú Mỹ 3 – Cần Thơ sẽ kết nối với Khu công nghiệp chuyên sâu Phú Mỹ 3, cảng cạn Phú Mỹ và cảng nước sâu Cái Mép – Thị Vải, hình thành chuỗi công nghiệp – cung ứng – logistics cho không chỉ Cần Thơ mà cả Đồng bằng sông Cửu Long.
Ở tầm không gian nhỏ hơn nhưng ý nghĩa không kém, xã Châu Thành đang tận dụng nền tảng với 1 khu công nghiệp, 1 cụm công nghiệp và Trung tâm Điện lực Sông Hậu. Hơn 10km bờ sông Hậu cùng khả năng kết nối hệ thống cảng là điều kiện để địa phương phát triển liên kết công nghiệp – logistics – thương mại, dịch vụ. Quan điểm “thu hút đầu tư nhưng không bằng mọi giá”, ưu tiên công nghệ phù hợp, giá trị gia tăng cao, sử dụng đất hiệu quả và bảo vệ môi trường cho thấy Cần Thơ đang cố gắng tránh cái bẫy công nghiệp bẩn mà nhiều địa phương khác đã vấp phải.
Bến xe Tàu phà Cần Thơ: Hạ tầng giao thông là “mạch máu” của trung tâm logistics
Một trung tâm logistics Cần Thơ không thể hình thành nếu chỉ có nhà máy và khu công nghiệp trên giấy. Hạ tầng giao thông – đặc biệt là bến xe, bến tàu – chính là mạch máu kết nối hàng hóa và con người. Từ nguồn vốn vay của Quỹ Đầu tư phát triển thành phố Cần Thơ cùng vốn góp cổ đông, Công ty Cổ phần Bến xe Tàu phà Cần Thơ đang từng bước hình thành các công trình hạ tầng quy mô, tăng năng lực khai thác, đáp ứng nhu cầu thiết yếu của thành phố.
Tiêu biểu là Bến xe khách Trung tâm thành phố, vốn đầu tư trên 258 tỉ đồng, diện tích khoảng 7,5ha, công suất phục vụ khoảng 40.000 hành khách và 1.500 phương tiện mỗi ngày. Hệ thống nhà vé, quản lý, bãi đỗ, điều hành được đầu tư đồng bộ, ứng dụng công nghệ trong kiểm soát, giám sát và điều hành phương tiện. Dịp 30/4 – 1/5/2026, hệ thống bến xe do công ty quản lý phục vụ hơn 40.000 hành khách với 1.850 lượt phương tiện, tăng khoảng 40% so với ngày thường – minh chứng rõ ràng cho sức chịu tải của hạ tầng.
Từ một dự án hạ tầng, Bến xe Trung tâm đã trở thành nền tảng để phát triển dịch vụ hỗ trợ vận tải, thương mại và khai thác mặt bằng. Với nền tảng này, Bến xe khách Ô Môn được xác định là dự án trọng điểm tiếp theo. Nếu Cần Thơ biết gắn kết mạng lưới bến xe với cảng sông và khu công nghiệp, thành phố sẽ tiến gần hơn tới hình hài một trung tâm logistics vùng đúng nghĩa.

Cơ hội và điều kiện để Cần Thơ trở thành trung tâm logistics Đồng bằng sông Cửu Long
Cần Thơ đang hội tụ nhiều mảnh ghép: nhà máy thép Tây Đô giúp chủ động nguồn vật liệu cho hạ tầng, khu công nghiệp Vĩnh Thạnh giai đoạn 2 tạo chuỗi liên kết với cảng nước sâu, Châu Thành mở rộng không gian công nghiệp – logistics ven sông Hậu, còn hệ thống bến xe, bến tàu được nâng cấp bằng nguồn vốn dài hạn của thành phố. Nếu kết nối được các mảnh ghép này, Cần Thơ có cơ hội thực sự trở thành “cửa ngõ công nghiệp và logistics” của cả vùng.
Tuy vậy, hạ tầng cứng mới là một nửa câu chuyện. Nửa còn lại là thể chế và chất lượng sống. Châu Thành đang cho thấy một hướng đi đáng chú ý: cải thiện môi trường đầu tư, đẩy mạnh chuyển đổi số, cải cách hành chính, song song chỉnh trang cảnh quan, xây dựng các tuyến đường “Sáng – xanh – số”, hoàn thiện tiêu chí nông thôn mới. Đó là cách để phát triển kinh tế gắn với nâng chất lượng sống, thay vì đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng ngắn hạn.
Kết luận, Cần Thơ đã chọn con đường khó nhưng đúng: đầu tư mạnh vào hạ tầng công nghiệp và logistics, chấp nhận áp lực lớn về vốn, tiến độ và chất lượng quản trị. Thành phố sẽ chỉ thực sự trở thành cực tăng trưởng mới của Đồng bằng sông Cửu Long khi các dự án hiện nay được triển khai đúng cam kết, gắn kết thành mạng lưới, và người dân cảm nhận được lợi ích qua việc làm, dịch vụ tốt hơn và môi trường sống được bảo vệ.






