eCDT biến từng chuyến biển thành hồ sơ có thể kiểm chứng
Hệ thống eCDT là công cụ điện tử giúp chủ tàu khai báo thông tin tàu cá, ghi nhật ký khai thác và kết nối dữ liệu từ lúc rời bến đến khi cập cảng để phục vụ truy xuất nguồn gốc thủy sản. Giá trị của hệ thống không nằm ở việc thay giấy bằng điện thoại, mà ở khả năng đối chiếu những gì tàu khai báo với hành trình và lượng hải sản thực tế.
Chiều 18/9, UBND xã Đồng Tiến phối hợp với Chi cục Thủy sản và Cảng cá Cửa Sót tổ chức tập huấn eCDT cho chủ tàu. Ngư dân được hướng dẫn cài ứng dụng, đăng ký tài khoản, khai báo thông tin tàu, ghi nhật ký khai thác và thực hiện các thao tác truy xuất trên điện thoại thông minh; cán bộ cũng giải đáp vướng mắc ngay tại lớp. Đây là cách triển khai đúng hướng: hướng dẫn trực tiếp, thay vì mặc định mọi chủ tàu đều quen công nghệ.
Quảng Ngãi đặt yêu cầu hoàn tất cài đặt eCDT trước ngày 10/11, đồng thời tăng giám sát 24/24 giờ với nhóm tàu có nguy cơ cao vi phạm. Toàn tỉnh có 4.818 tàu cá từ 6 m trở lên đã đăng ký, cập nhật trên VNFishbase và đối khớp với dữ liệu dân cư VNeID. Những con số ấy cho thấy quy mô triển khai lớn; nhưng cài đặt chỉ là điểm khởi đầu, không phải bằng chứng rằng mọi chuyến biển đã được ghi nhận đầy đủ.

Ngư dân cần khai báo gì trước, trong và sau chuyến biển?
Chủ tàu nên chuẩn bị điện thoại thông minh, cài ứng dụng, đăng ký tài khoản và kiểm tra thông tin tàu trước khi ra khơi. Tại buổi tập huấn ở Đồng Tiến, nội dung hướng dẫn gồm khai báo tàu cá và ghi nhật ký khai thác. Khi sử dụng hệ thống, chủ tàu còn có thể khai báo trên điện thoại, đăng ký giờ cập cảng và báo cáo sản lượng đánh bắt.
- Trước chuyến biển: kiểm tra thông tin tàu đã khai báo, hoàn tất thủ tục xuất bến theo hướng dẫn và bảo đảm giấy tờ, điều kiện hoạt động của tàu đáp ứng quy định.
- Trong chuyến biển: ghi nhật ký khai thác và cập nhật thông tin theo yêu cầu; tuân thủ vùng khai thác được phép. Tàu thuộc diện bắt buộc phải duy trì thiết bị giám sát hành trình VMS.
- Trước khi về cảng: khai báo thời gian dự kiến hoặc giờ cập cảng theo hệ thống, sau đó báo cáo sản lượng đánh bắt.
- Khi cập cảng: phối hợp để lượng hải sản bốc dỡ được ghi nhận, đối chiếu với nhật ký và thông tin hành trình.
Ghi chép trung thực và nhất quán quan trọng hơn thao tác nhanh. Nếu sản lượng trong nhật ký khác lượng bốc dỡ, hoặc dữ liệu hành trình có dấu hiệu bất thường, cơ quan chức năng phải xác minh trước khi xác nhận nguồn gốc. Với người lớn tuổi hoặc ít dùng điện thoại, hình thức cán bộ xuống bến, xuống tàu hướng dẫn từng bước là cần thiết để tàu cá điện tử không chỉ tồn tại trên danh sách cài đặt.
Kiểm soát IUU phải nối liền từ cửa biển đến cảng cá
Chống khai thác IUU không thể dừng ở việc tàu đã đăng ký hay lắp thiết bị. Chuỗi giám sát phải theo được tàu rời bến, hoạt động trên biển, trở về cảng, bốc dỡ rồi đưa thủy sản vào tiêu thụ. Nếu một khâu thiếu dữ liệu, việc chứng minh nguồn gốc sẽ yếu đi; nếu thông tin giữa các khâu không khớp, hồ sơ cần được kiểm tra thay vì xác nhận theo hình thức.
Kinh nghiệm triển khai tại Thanh Hóa cho thấy hệ thống đã được dùng ở các cảng cá chỉ định Lạch Hới, Lạch Bạng, Hòa Lộc và Hải Châu. Đến ngày 13/10/2026, 97,8% tàu cá đã cài ứng dụng, 91% tàu làm thủ tục xuất nhập cảng qua hệ thống; eCDT ghi nhận 27.714 lượt tàu và 14.723 tấn thủy sản khai thác bốc dỡ. Đây là tiến bộ đáng kể, nhưng khoảng cách giữa tỷ lệ cài đặt và tỷ lệ thực hiện thủ tục cũng nhắc rằng cài ứng dụng không đồng nghĩa đã tuân thủ trọn vẹn.
Quảng Ngãi đồng thời yêu cầu rà soát tàu không đủ điều kiện, phân công đơn vị quản lý tàu nguy cơ cao và không cho xuất bến khi tàu chưa đủ điều kiện. Các địa phương ven biển cũng được yêu cầu rà soát dữ liệu tàu với VNFishbase, cập nhật tình trạng đăng ký, giấy phép, VMS và hoạt động thực tế. eCDT phát huy tác dụng khi dữ liệu số đi cùng kiểm tra thực địa và xử lý sai phạm nhất quán.
Cài đặt là bước đầu, khai báo đúng mới giữ được sinh kế
Một ứng dụng mới có thể khiến thủ tục ban đầu lúng túng, nhất là với ngư dân quen sổ giấy. Nhưng khi khai báo trên điện thoại, đăng ký giờ cập cảng và báo cáo sản lượng trở thành thói quen, việc kiểm tra thông tin và bốc dỡ lúc tàu về bến có thể thuận tiện hơn. Sự thuận tiện ấy chỉ bền vững nếu chủ tàu nhập dữ liệu đầy đủ, đúng thời điểm và sẵn sàng phối hợp khi cần đối chiếu.
Hồ sơ không rõ nguồn gốc có thể gây hệ lụy vượt khỏi chủ tàu, ảnh hưởng người lao động và các cơ sở thu mua, vận chuyển, chế biến. Vì vậy, tập huấn cần tiếp tục đi cùng hỗ trợ tại bến, còn cơ quan quản lý phải theo sát nhóm tàu nguy cơ cao và xử lý những điểm lệch trong dữ liệu. Đây không nên được xem là một đợt hoàn thành cài đặt cho đủ chỉ tiêu.
Kết luận: ngư dân cần cài đặt và làm quen với hệ thống eCDT, nhưng nhiệm vụ cốt lõi là ghi đúng nhật ký, khai báo hành trình và sản lượng, rồi bảo đảm dữ liệu khớp với lượng thủy sản cập cảng. Khi từng chuyến biển được theo dõi liền mạch, truy xuất thủy sản mới có cơ sở tin cậy và chống khai thác IUU mới gắn được với việc giữ nghề lâu dài.






