Khoảng cách không nằm ở số lượng nghiên cứu
Liên kết viện trường và doanh nghiệp là cách tổ chức nghiên cứu trong đó nhà khoa học phát triển giải pháp từ nhu cầu ứng dụng, còn doanh nghiệp cùng xác định bài toán, tiếp nhận và đưa sản phẩm ra thị trường. Đây không nên là hoạt động kết nối mang tính hình thức, mà phải là hợp tác có đầu ra và bên sử dụng cụ thể.
Ngày 23/10, Bộ Khoa học và Công nghệ phối hợp với Văn phòng Chính phủ tổ chức hội nghị toàn quốc nhằm thúc đẩy hợp tác giữa viện nghiên cứu, trường đại học và cộng đồng doanh nghiệp; Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng chủ trì, Bộ trưởng Vũ Hải Quân đồng chủ trì phiên trao đổi. Cuộc thảo luận diễn ra trong bối cảnh doanh nghiệp còn tham gia hạn chế: giai đoạn 2021-2025, chỉ khoảng 12% nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp quốc gia có doanh nghiệp góp mặt.
Quy mô đầu tư nghiên cứu lớn chưa đủ bảo đảm sản phẩm tìm được người dùng. Trong giai đoạn 2016-2025, 42 chương trình triển khai 4.800 nhiệm vụ với tổng kinh phí khoảng 17.000 tỷ đồng, nhưng kết quả thương mại hóa vẫn hạn chế. Vấn đề không chỉ là làm ra công nghệ, mà là nghiên cứu có giải đúng nhu cầu và có đơn vị sẵn sàng tiếp nhận hay không.

83 công nghệ chào bán cho một nhu cầu
Độ vênh giữa cung và cầu hiện rõ trên các sàn giao dịch công nghệ. Đến ngày 22/8/2026, có khoảng 62.548 công nghệ được chào bán nhưng chỉ ghi nhận 750 nhu cầu tìm mua, tương đương khoảng 83 công nghệ cho mỗi nhu cầu. Đây không đơn thuần là bài toán quảng bá: khi sản phẩm chưa khớp yêu cầu về tính năng, giá thành hoặc khả năng tích hợp, thêm một danh mục chào bán khó tạo ra giao dịch.
Từ tháng 1 đến tháng 8/2026, các sàn ghi nhận 72 giao dịch thành công với tổng giá trị 11,233 tỷ đồng. Con số giao dịch cho thấy thị trường có hoạt động, nhưng khoảng cách giữa lượng công nghệ được giới thiệu và nhu cầu tìm mua vẫn đặt ra câu hỏi về cách hình thành đề tài nghiên cứu. Doanh nghiệp thường tham gia muộn, khiến yêu cầu ứng dụng chưa được thống nhất từ đầu. Khi đó, nhà khoa học có thể hoàn thành một nhiệm vụ nhưng chưa chắc tạo ra sản phẩm phù hợp để doanh nghiệp đầu tư tiếp nhận.
Doanh nghiệp nghiên cứu cũng cần được nhìn nhận như một phần của năng lực đổi mới, không chỉ là khách hàng cuối cùng. Trong giai đoạn 2021-2025, doanh nghiệp chủ trì 181 trong 1.451 nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp quốc gia được tổng hợp, chiếm 12,5%. Tỷ lệ còn khiêm tốn ấy củng cố lý do cần đưa doanh nghiệp vào sớm hơn.

Đặt hàng trước, hoàn thiện cùng nhau
Muốn chuyển nghiên cứu thành sản phẩm, doanh nghiệp cần góp mặt từ khâu xác định bài toán: vấn đề nào cần giải quyết, tiêu chuẩn sử dụng ra sao, công nghệ phải tích hợp với hệ thống nào và ai sẽ tiếp nhận kết quả. Những yêu cầu ấy giúp viện, trường lựa chọn hướng nghiên cứu sát thực tế hơn, đồng thời tạo cơ sở để các bên cùng hoàn thiện công nghệ sau giai đoạn thử nghiệm.
Cách tiếp cận đang được nhấn mạnh là chuyển từ đề xuất nghiên cứu đơn lẻ sang nhiệm vụ xuất phát từ đơn đặt hàng của Nhà nước và doanh nghiệp, có sản phẩm đầu ra rõ ràng. Kết quả nghiên cứu cần được đánh giá bằng sản phẩm cụ thể, thay vì chỉ đếm số nhiệm vụ hay công trình. Đây là thay đổi quan trọng: doanh nghiệp không chỉ góp kinh phí, mà còn chịu trách nhiệm nêu nhu cầu và tham gia kiểm chứng khả năng ứng dụng.
Một số trường hợp cho thấy hợp tác kéo dài đến khâu ứng dụng có thể tạo giá trị đo được. Năm 2026, Viettel và Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội bàn giao, ứng dụng ba kết quả gồm CoDev, TelcoLLM và nền tảng AI Platform. Trong ngành giấy, hợp tác giữa Viện Công nghiệp Giấy và Xenluylô với Công ty Giấy Sông Đuống giúp giảm 10,8% điện năng tiêu thụ và tăng 5,09% tốc độ máy xeo.

Đo hợp tác bằng khả năng đưa sản phẩm ra thị trường
Liên kết Nhà nước, nhà khoa học và doanh nghiệp chỉ có ý nghĩa khi mỗi bên đảm nhận một vai trò xuyên suốt: doanh nghiệp nêu nhu cầu và tham gia đầu tư; viện, trường phát triển giải pháp; Nhà nước tạo điều kiện và chia sẻ rủi ro theo quy định. Cơ chế hợp tác như vậy có thể nâng khả năng thương mại hóa công nghệ vì trách nhiệm tiếp nhận được tính đến ngay từ lúc thiết kế nhiệm vụ, thay vì chờ đến khi nghiên cứu kết thúc.
Các giải pháp được đề xuất gồm đo lường kết quả liên kết bằng 10 chỉ số, đồng tài trợ theo vốn doanh nghiệp thực góp, gắn phân bổ kinh phí cho viện trường với kết quả hợp tác và chuyển giao, nâng năng lực tiếp nhận công nghệ, tạo thị trường ban đầu cho sản phẩm mới và phát huy vai trò tổ chức trung gian. Đây là hướng đi đáng ủng hộ, nhưng hiệu quả phải được kiểm chứng bằng sản phẩm được ứng dụng và giao dịch thực tế, không phải số biên bản hợp tác.
Bộ Khoa học và Công nghệ đề xuất Chính phủ chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương và chủ thể liên quan triển khai nhiệm vụ từ quý IV/2026; các tập đoàn, tổng công ty nhà nước được kỳ vọng chủ động đặt hàng, thử nghiệm và trở thành khách hàng đầu tiên của sản phẩm khoa học và công nghệ mới. Bước tiếp theo vì thế không phải là tổ chức thêm kết nối cho đủ hình thức, mà là biến nhu cầu thị trường thành đơn đặt hàng, rồi theo sát công nghệ đến khi được sử dụng. Đó mới là thước đo thuyết phục cho liên kết viện trường và chuyển giao công nghệ.






