Cắt thủ tục phải đi cùng năng lực giám sát
Hậu kiểm môi trường là việc cơ quan quản lý tiếp tục kiểm tra, giám sát mức độ tuân thủ và tác động của dự án sau khi được phép triển khai, thay vì dựa chủ yếu vào thẩm định trước khi hoạt động. Đó là mắt xích quyết định liệu cải cách thủ tục có giảm gánh nặng cho doanh nghiệp mà vẫn bảo vệ được người dân hay không. Sáng 24/10, Quốc hội nghe tờ trình và báo cáo thẩm tra dự án sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường; dự thảo hướng tới giảm trên 90% số dự án phải đánh giá tác động môi trường và xin giấy phép môi trường, chuyển trọng tâm sang hậu kiểm. Cải cách này có lý do: bớt hồ sơ, thời gian chờ và các yêu cầu không cần thiết. Nhưng nếu cơ quan quản lý không đủ người, thiết bị và quyền xử lý vi phạm, giảm tiền kiểm sẽ chỉ chuyển rủi ro từ doanh nghiệp sang cộng đồng.
Đại biểu Quốc hội Nguyễn Lân Hiếu, Giám đốc Bệnh viện Đại học Y Hà Nội, cảnh báo cắt giảm mạnh tiền kiểm chỉ an toàn khi năng lực hậu kiểm theo kịp. Lo ngại ấy không trừu tượng: ô nhiễm không khí kéo dài có thể làm tăng bệnh hô hấp và tim mạch, đặc biệt ở trẻ em và người cao tuổi. Khi giám sát sau cấp phép thất bại, người dân sống gần nhà máy, trường học, bệnh viện hoặc nguồn nước có thể là những người đầu tiên hứng chịu tác động, trong khi phát hiện và xử lý thường đến muộn. Vì vậy, đánh giá tác động môi trường không nên bị đơn giản hóa chỉ theo quy mô dự án; vị trí và mức độ nhạy cảm của khu vực phải được tính đến.
Tiêu chí rõ ràng, trách nhiệm không được chia nhỏ
Rút gọn diện dự án phải đánh giá tác động môi trường chỉ hợp lý nếu ranh giới miễn, giảm được xác định minh bạch và có thể đo lường. Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn đề nghị rà soát tiêu chí phân loại để bảo đảm rõ ràng, minh bạch, định lượng được; ông cũng lưu ý không nên lược bỏ quá mức các yếu tố nhạy cảm như khu dân cư tập trung và nguồn nước sinh hoạt. Đây là điều kiện thiết yếu để dự án nhỏ nhưng nằm sát cộng đồng không lọt khỏi sự xem xét cần thiết. Với dự án trong khu công nghiệp, miễn đánh giá chỉ nên áp dụng khi hạ tầng xử lý chất thải đã đồng bộ, còn dự án phát thải lớn hoặc tạo chất thải nguy hại cần được kiểm soát chặt.
Phân cấp cho địa phương có thể giúp quyết định sát thực tế hơn, nhưng không thể để một cơ quan vừa chịu áp lực thu hút đầu tư, vừa tự thẩm định và tự giám sát mà thiếu kiểm soát độc lập. Dự thảo cần gắn thẩm quyền với điều kiện về nhân lực chuyên môn, thiết bị quan trắc và cơ chế giám sát từ cấp trung ương. Trách nhiệm người đứng đầu cũng phải gắn với chỉ tiêu chất lượng môi trường đo được, công khai định kỳ; với ô nhiễm liên tỉnh, cần xác định đầu mối có quyền quyết định cuối cùng. Nếu trách nhiệm bị chia cho nhiều đơn vị đến mức không ai chịu trách nhiệm chính, hậu kiểm sẽ tồn tại trên giấy, còn người dân tiếp tục sống với ô nhiễm.

Dữ liệu và kiểm tra phải dẫn tới hành động
Quản trị môi trường dựa trên dữ liệu chỉ có giá trị khi số liệu chính xác, công khai và được nối với quyết định kiểm tra, xử phạt. Dự thảo hướng tới xây dựng cơ sở dữ liệu môi trường quốc gia thống nhất, đồng bộ và liên thông; đây có thể là nền tảng để phát hiện sớm vi phạm và nhận diện khu vực chịu áp lực ô nhiễm. Nhưng dữ liệu quan trắc thiếu tin cậy hoặc không được công bố kịp thời sẽ tạo cảm giác an toàn giả. Cần công khai cách đo, tình trạng thiết bị và kết quả theo khu vực; thông tin về chất lượng không khí cũng nên đi kèm khuyến cáo sức khỏe cụ thể cho nhóm nhạy cảm, thay vì chỉ đưa ra một chỉ số khó chuyển thành hành động.
Hậu kiểm thực chất cần lịch kiểm tra tối thiểu, ưu tiên theo mức độ rủi ro và chế tài đủ sức răn đe. Đại biểu Nguyễn Lân Hiếu đề nghị dự án phải đánh giá lại khi xảy ra sự cố môi trường, đồng thời quan tâm cả dự án gần khu dân cư, trường học, bệnh viện và nguồn nước, kể cả khi quy mô nhỏ. Số lần kiểm tra, kết quả và biện pháp khắc phục cần được theo dõi đến khi hoàn tất, không dừng ở biên bản. Chính phủ dự kiến tiếp tục cắt giảm hai thủ tục thuộc thẩm quyền quy định chi tiết tại nghị định sau khi dự thảo kế thừa cải cách đã triển khai, bãi bỏ năm thủ tục và sửa đổi, bổ sung ba thủ tục. Vì thế, song hành với lộ trình giảm thủ tục phải là kế hoạch tăng năng lực giám sát.
Giảm tiền kiểm chỉ đáng giá khi người dân được bảo vệ
Sửa Luật Bảo vệ môi trường theo hướng giảm tiền kiểm là lựa chọn có thể thúc đẩy đầu tư và giảm thủ tục, nhưng không nên coi tỷ lệ dự án được miễn đánh giá hay cấp phép là thước đo thành công. Thước đo đúng phải là mức độ tuân thủ sau cấp phép, thời gian phát hiện vi phạm, khả năng buộc khắc phục và chất lượng môi trường nơi người dân sinh sống. Nếu năng lực hậu kiểm không đáp ứng, chính quyền sẽ khó bảo đảm hiệu quả quản lý, còn cộng đồng phải chịu hậu quả trước khi hệ thống phản ứng. Luật cần chốt tiêu chí rủi ro rõ ràng, bảo đảm dữ liệu đáng tin, phân công trách nhiệm đến cùng và dành nguồn lực tương xứng cho kiểm tra. Cắt giảm tiền kiểm chỉ là cải cách khi hậu kiểm đủ mạnh để ngăn ô nhiễm, chứ không phải hợp thức hóa việc giám sát yếu đi.






