Định mức mới cần nhìn cả tuần làm việc
Định mức giờ dạy là số tiết đứng lớp được quy định bình quân mỗi tuần cho giáo viên, nhưng không phản ánh toàn bộ thời gian lao động dành cho chuẩn bị bài, đánh giá học sinh và các nhiệm vụ chuyên môn khác. Bộ GD-ĐT đang lấy ý kiến dự thảo thông tư thay thế quy định hiện hành, đề xuất tăng tiết dạy giáo viên tiểu học từ 23 lên 24 tiết/tuần, THCS từ 19 lên 20 và THPT từ 17 lên 19 tiết/tuần. Đây là thay đổi đáng kể, nhất là với giáo viên THPT, nhưng con số đứng lớp không thể là thước đo duy nhất để đánh giá khối lượng công việc. Giáo viên làm việc theo năm học, bảo đảm 40 giờ mỗi tuần, không tính nghỉ hằng năm; vì vậy, điều chỉnh định mức chỉ thuyết phục nếu toàn bộ quỹ thời gian được phân bổ thực chất và minh bạch.
Theo giải thích của Bộ, quy định hiện hành được xây dựng từ năm 2009, trong khi chương trình, phương thức dạy học, công nghệ và yêu cầu quản lý đã đổi khác. Bộ nói điều chỉnh không nhằm chủ yếu giảm số giáo viên đứng lớp, mà để sử dụng hợp lý thời gian làm việc, ưu tiên nhiệm vụ thiết yếu và giảm áp lực hành chính. Dự thảo chia quỹ thời gian thành 40% giảng dạy, 40% chuẩn bị bài và đánh giá, 20% hoạt động chuyên môn, bồi dưỡng và hành chính. Cách chia này có lý trên giấy; thử thách là bảo đảm các tỷ lệ ấy được thực hiện trong trường học, thay vì trở thành căn cứ hợp thức hóa việc tăng tiết.

Một tiết dạy còn kéo theo nhiều giờ lao động
Giáo viên mong quy định tính đủ phần việc khuất sau mỗi tiết đứng lớp: nghiên cứu và soạn bài, chấm chữa, nhận xét học sinh, xây dựng đề, sinh hoạt chuyên môn, bồi dưỡng và cập nhật hệ thống học tập. Đây không phải những việc có thể bỏ đi khi tăng định mức. Với trường hợp giáo viên Ngữ văn THPT phụ trách bốn lớp, khoảng 160 học sinh, một ước tính cho thấy soạn bài có thể chiếm 25,5 giờ mỗi tuần; chấm bài và nhận xét có thể cần thêm 10,7-11,7 giờ mỗi tuần trong 35 tuần học. Tính cả các nhiệm vụ chính được nêu, tổng khối lượng công việc ước tính khoảng 57,7-58,8 giờ mỗi tuần, chưa gồm đầy đủ việc phát sinh.
Ước tính này không thể đại diện cho mọi môn học hay địa bàn, nhưng đủ cảnh báo rằng một định mức chung cần dựa trên khảo sát thực tế. Nếu tăng tiết dạy trong khi những nhiệm vụ khác không giảm, giáo viên có thể mất thêm thời gian nghiên cứu bài, chấm chữa và quan tâm học sinh; thời gian dành cho việc tạo thêm thu nhập cũng bị thu hẹp. Câu hỏi đúng không chỉ là mỗi tuần đứng lớp bao nhiêu tiết, mà còn là nhà trường giao bao nhiêu việc và dành bao nhiêu thời gian cho từng việc.

Tiết quy đổi cần đi cùng nguyên tắc công bằng
Quy định hiện hành đã trao cho hiệu trưởng quyền xem xét, quyết định số tiết quy đổi đối với nhiệm vụ chưa có định mức giảm tiết cụ thể. Việc quy đổi phải căn cứ vào tính chất, mức độ phức tạp và khối lượng công việc thực tế; trước khi quyết định, hiệu trưởng phải lấy ý kiến phó hiệu trưởng, cấp ủy, tổ trưởng và tổ phó chuyên môn. Đây là cơ chế cần thiết vì nhiệm vụ kiêm nhiệm không giống nhau, nhưng quyền chủ động chỉ có ý nghĩa khi cách tính rõ ràng, có giải trình và áp dụng nhất quán. Nếu mỗi trường tự quy đổi mà thiếu tiêu chí công khai, cùng một nhiệm vụ có thể được ghi nhận rất khác nhau.
Dự thảo cũng hướng tới hạn chế giáo viên kiêm nhiệm các vị trí hỗ trợ, trừ trường hợp thực tế bắt buộc, và tính thêm nhân sự hỗ trợ để giáo viên tập trung vào dạy học. Đây là hướng đi đáng ủng hộ: không thể xử lý quá tải chỉ bằng cách cộng thêm tiết đứng lớp, trong khi việc hành chính và việc ngoài chuyên môn vẫn dồn lên giáo viên. Trước khi chốt quy định, Bộ cần khảo sát theo môn học, cấp học và đặc thù địa bàn; đồng thời làm rõ cách ghi nhận nhiệm vụ chuyên môn và kiêm nhiệm bằng thời gian hoặc tiết quy đổi.

Tăng tiết chỉ hợp lý khi tính đủ việc
Đề xuất tăng định mức giờ dạy có thể giúp sắp xếp lại quỹ thời gian, nhưng mục tiêu đó sẽ mất sức thuyết phục nếu giáo viên phải gánh thêm tiết mà phần chuẩn bị, đánh giá và kiêm nhiệm vẫn bị xem nhẹ. Một khung 40 giờ mỗi tuần chỉ có giá trị khi công việc thực tế nằm trong khung ấy và được phân bổ công bằng. Vì vậy, tiêu chuẩn cho quy định mới không nên chỉ là số tiết dạy giáo viên hoàn thành, mà phải là mức độ ghi nhận đầy đủ toàn bộ lao động nghề nghiệp. Tính đúng, tính đủ công việc ngoài lớp không phải ưu đãi; đó là điều kiện để tăng định mức không biến thành tăng quá tải.







