Lợi thế gió chỉ phát huy khi có cả chuỗi năng lực
Điện gió ngoài khơi là hình thức sản xuất điện từ các tua-bin đặt trên biển, đòi hỏi phối hợp giữa khảo sát, xây dựng công trình, truyền tải điện và dịch vụ vận hành. Việt Nam có đường bờ biển dài, nguồn gió ngoài khơi và nền tảng công nghiệp dầu khí biển; đây là điểm xuất phát đáng kể, nhưng chưa đủ để bảo đảm các dự án thành công. Quy hoạch điện VIII điều chỉnh đặt mục tiêu tổng công suất điện gió ngoài khơi đạt 6.000 MW vào năm 2030 và 17.000 MW vào năm 2035, nên cần phát triển đồng bộ chứ không chỉ tập trung lắp đặt tua-bin. Na Uy đem lại kinh nghiệm hữu ích ở cách tổ chức toàn chuỗi, từ trang trại gió đến truyền tải và nhà cung cấp dịch vụ. Bài học đáng chú ý là tài nguyên chỉ biến thành năng lượng sạch biển khi đi cùng năng lực triển khai và kết nối.
Theo Jon Dugstad, Giám đốc điện gió ngoài khơi của NORWEP, Việt Nam có nền tảng công nghiệp ngoài khơi đáng kể nhờ quá trình phát triển dầu khí. Nhận định này củng cố một hướng đi thực tế: tận dụng năng lực sẵn có, đồng thời bù đắp những mắt xích công nghệ và chuỗi cung ứng còn thiếu.

Năng lực tổng thầu biển là tài sản có thể chuyển đổi
Petrovietnam tổng thầu không phải là năng lực hình thành trên giấy. Qua PTSC và Vietsovpetro, tập đoàn đã tích lũy kinh nghiệm thiết kế, mua sắm, chế tạo, vận chuyển, lắp đặt, đấu nối và chạy thử công trình biển. Dấu mốc EPCI đầu tiên của PTSC M&C là dự án Sư Tử Đen Đông Bắc năm 2008; sau đó, doanh nghiệp tiếp tục đảm nhận các công trình dầu khí lớn và nâng dần phần việc thiết kế do đội ngũ trong nước thực hiện. Đây là nền tảng có giá trị cho điện gió ngoài khơi: nhiều kỹ năng quản lý giao diện, tiến độ, chất lượng và an toàn trên biển có thể được vận dụng. Tuy nhiên, chuyển đổi không đồng nghĩa bê nguyên mô hình dầu khí sang năng lượng gió. Muốn làm chủ dự án mới, doanh nghiệp trong nước cần tiếp tục bổ sung chuyên môn và phối hợp với đối tác có kinh nghiệm.

Hợp tác với Na Uy cần tạo năng lực, không chỉ tạo dự án
Hợp tác Việt Nam Na Uy có ý nghĩa nhất khi giúp doanh nghiệp trong nước tiếp cận công nghệ tái tạo và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng, thay vì chỉ mua thiết bị hoặc thuê dịch vụ. Các doanh nghiệp Na Uy như DNV, Fred. Olsen Windcarrier, NGI và Reach Subsea hoạt động ở nhiều khâu, từ tư vấn, khảo sát đến vận chuyển, lắp đặt và dịch vụ dưới biển. Sự đa dạng ấy mở ra cơ hội kết nối với năng lực chế tạo, tổng thầu và dịch vụ kỹ thuật của Việt Nam; song các cơ hội này không tự động trở thành hợp đồng hay chuyển giao công nghệ. Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và bốn thành viên EFTA, trong đó có Na Uy, được ký ngày 18/10/2026, tạo thêm khuôn khổ cho quan hệ kinh tế. Về dài hạn, chuyển dịch từ dầu khí sang năng lượng sạch không phải phủ nhận năng lực cũ, mà là dùng năng lực ấy cho mục tiêu mới. Đó mới là giá trị chiến lược của hợp tác.







