Xây dữ liệu mới là nửa chặng đường
Chuyển đổi số trong quản trị công là việc tổ chức dữ liệu, công nghệ và quy trình của cơ quan nhà nước để cải thiện điều hành và giúp người dân tiếp cận dịch vụ thuận tiện hơn. Nhiều địa phương đã đầu tư xây dựng cơ sở dữ liệu, nhưng dữ liệu vẫn phân tán, thiếu chuẩn chung và chưa thể chia sẻ đầy đủ giữa các hệ thống. Giai đoạn đầu tập trung dựng nền tảng, thu thập thông tin; bài toán hiện nay là làm sao để dữ liệu được kết nối, tái sử dụng và tạo giá trị cụ thể cho quản lý, doanh nghiệp và người dân. Vì thế, số lượng phần mềm hay hồ sơ được số hóa không thể là bằng chứng đủ sức thuyết phục rằng chuyển đổi số đã thành công. Nếu cán bộ vẫn phải mở nhiều hệ thống, tra lại thông tin và yêu cầu người dân khai báo lặp lại, khoản đầu tư mới chỉ tạo thêm lớp công nghệ, chưa cải thiện cách chính quyền phục vụ.
Khoảng cách ấy không đơn thuần do thiếu thiết bị. Cơ sở dữ liệu có thể được xây bởi nhiều nhà cung cấp, vào những thời điểm khác nhau, với tiêu chuẩn và khả năng chia sẻ không đồng nhất. Cùng lúc, trách nhiệm cập nhật, quyền khai thác, cơ chế phối hợp và quy tắc kết nối có thể chưa rõ. Hệ quả là những “ốc đảo” dữ liệu: thông tin có tồn tại nhưng cơ quan cần dùng không truy cập được hoặc không biết có thể tin cậy đến đâu. Với chuyển đổi số địa phương, đây là vấn đề quản trị cần được giải quyết trước khi tiếp tục mua thêm nền tảng. Dữ liệu chính phủ số chỉ trở thành tài sản công khi có thể dùng lại an toàn, đúng mục đích và trong một quy trình liên cơ quan thực sự.

Quảng Ninh cho thấy dữ liệu có thể đi vào công việc
Quảng Ninh đang theo đuổi hướng tích hợp công nghệ vào hoạt động của bộ máy, gắn chuyển đổi số với yêu cầu nâng hiệu quả xử lý công việc và phục vụ người dân, doanh nghiệp. Thành phố đã ban hành Chiến lược dữ liệu đến năm 2030, danh mục dữ liệu mở, dữ liệu dùng chung và kế hoạch triển khai trong năm 2026; cả 70 cơ quan, đơn vị cũng đã ban hành kế hoạch số hóa năm này. Từ ngày 1/9/2026, Quảng Ninh chính thức trở thành thành phố, tạo thêm cơ hội để thúc đẩy chương trình số. Những con số về y tế cho thấy dữ liệu có thể được đưa vào nghiệp vụ: thông tin sức khỏe của 1.141.484 người đã được lưu trong hồ sơ và sổ sức khỏe điện tử; 752.904 sổ sức khỏe điện tử được liên kết với VNeID, đưa địa phương đứng thứ năm cả nước.
Tác động chỉ đáng kể khi các hồ sơ đó giúp công việc và dịch vụ thay đổi. Các cơ sở khám chữa bệnh đã tra cứu thông tin hơn 4,9 triệu lượt khi triển khai khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế bằng căn cước. Đây là dấu hiệu dữ liệu đang được sử dụng, nhưng cũng đặt ra câu hỏi cần trả lời bằng kết quả cụ thể: thời gian xử lý có giảm, người dân có bớt cung cấp giấy tờ, cán bộ có bớt thao tác lặp? Với dịch vụ công số, chia sẻ dữ liệu đúng cách có thể giúp người dân và doanh nghiệp khai báo một lần, hồ sơ được xử lý nhanh hơn và cần ít giấy tờ hơn. Đó mới là tiêu chuẩn thực tế để đánh giá một chính quyền phục vụ, thay vì dừng ở báo cáo số hóa.
Đầu tư phải gắn với bài toán, thước đo và con người
Theo Nguyễn Xuân Huy, đồng sáng lập kiêm giám đốc điều hành Datasight, khoảng cách lớn nhất giữa đầu tư công nghệ và hiệu quả không nằm ở công nghệ mà ở khâu tổ chức sử dụng. Nhận định này chạm đúng điểm yếu của nhiều chương trình: nền tảng được nghiệm thu nhưng chưa trở thành công cụ trong công việc hằng ngày. Muốn khắc phục, trước hết phải xác định dữ liệu nào cần ưu tiên, cơ quan nào chịu trách nhiệm cập nhật và hệ thống nào cần kết nối. Kế đó là chọn bài toán cụ thể, chẳng hạn để cán bộ một cửa xem được hồ sơ người dân đã nộp ở cơ quan khác, thay vì yêu cầu cung cấp lại. Mỗi khoản đầu tư nên gắn với một đơn vị sử dụng và chỉ số có thể đo, như thời gian xử lý hay số lần người dân phải kê khai.
Nhân lực là điều kiện không thể xem nhẹ. Cán bộ cần hiểu quy trình mới và tin tưởng công cụ, còn đội ngũ kỹ thuật phải nắm được nhu cầu thực tế của cơ quan sử dụng. Việc để cán bộ, kỹ sư trẻ địa phương cùng tham gia dự án từ đầu vừa hỗ trợ triển khai, vừa tạo năng lực duy trì sau khi chuyên gia bên ngoài rời đi. Cùng với đó, cơ chế chia sẻ phải làm rõ quyền truy cập, trách nhiệm bảo vệ dữ liệu và chuẩn kỹ thuật chung. Nếu các điều kiện này thiếu, kết nối dữ liệu sẽ vẫn là mục tiêu trên văn bản, còn mỗi hệ thống tiếp tục vận hành theo cách riêng.
Đo giá trị bằng trải nghiệm người dân
Quảng Ninh đã ban hành chiến lược dữ liệu đến năm 2030 và kế hoạch thực hiện trong năm 2026, nhưng việc có kế hoạch chưa đồng nghĩa mọi nút thắt đã được gỡ. Hướng đi hợp lý là cụ thể hóa tiêu chuẩn dữ liệu, xây nền tảng chia sẻ rồi thử nghiệm ở một số sở, ngành hoặc địa phương trước khi nhân rộng. Việc nào cho kết quả thì mở rộng; việc nào không đạt thì dừng sớm và rút kinh nghiệm. Cách làm theo từng bước giúp chính quyền kiểm chứng giá trị trước khi tiếp tục phân bổ nguồn lực, thay vì mặc định rằng mua thêm công nghệ sẽ tự động đem lại hiệu quả.
Thước đo cuối cùng không phải số phần mềm được mua mà là thời gian, công sức người dân và doanh nghiệp tiết kiệm được mỗi ngày. Quan điểm ấy nên trở thành tiêu chí xuyên suốt cho dữ liệu chính phủ số: hồ sơ có được dùng lại, thủ tục có bớt giấy tờ, quyết định quản lý có dựa trên thông tin đầy đủ và cập nhật hay không. Nguồn lực đầu tư số chỉ chuyển thành hiệu quả quản lý nhà nước khi dữ liệu được kết nối, có người chịu trách nhiệm khai thác và giải quyết một nhu cầu cụ thể. Nếu thiếu những mắt xích đó, địa phương có thể sở hữu nhiều nền tảng mà dịch vụ vẫn chậm. Chuyển đổi số chỉ tạo giá trị khi người dân nhận ra sự khác biệt trong chính trải nghiệm của mình.






