Quy mô lớn là kết quả của sắp xếp trường học
Quy mô trường học sau sắp xếp là số lớp và cơ sở trực thuộc một đơn vị giáo dục, phản ánh cả mức độ hợp nhất lẫn phạm vi tổ chức dạy học của đơn vị ấy. Ngày 23.10, tại họp báo về tình hình kinh tế - xã hội quý 3 năm 2026, Giám đốc Sở GD-ĐT Đà Nẵng Lê Thị Bích Thuận thông tin về hoạt động trường sau sắp xếp, việc bố trí đội ngũ và chính sách giáo viên hợp đồng. Toàn thành phố hiện có 11 cơ sở giáo dục trên 100 lớp: 7 trường tiểu học, 3 trường THCS và một trung tâm giáo dục thường xuyên. Theo bà Thuận, quy mô này chủ yếu hình thành do sắp xếp, hợp nhất các cơ sở. Sau sáp nhập, các trường cơ bản ổn định tổ chức, phân công giáo viên và dạy học theo kế hoạch năm học. Nhưng ổn định ban đầu chưa đồng nghĩa mô hình lớn đã dễ quản lý: số lớp tăng khiến việc điều phối chuyên môn và đội ngũ đòi hỏi nhiều hơn.
Danh sách cho thấy mức tăng quy mô không chỉ là con số chung. Trường tiểu học Núi Thành ở xã Núi Thành có 180 lớp; Thăng An có 135, Nam Phước 129, Trần Đại Nghĩa 119, Thái Thị Bôi 117, Đỗ Thúc Tịnh 105 và Trường tiểu học Núi Thành ở phường Hòa Cường 103 lớp. Ở bậc THCS, ba trường có hơn 100 lớp; Trung tâm Giáo dục thường xuyên Đà Nẵng có 123 lớp. Đây là phép thử thực tế với ban giám hiệu: quy mô lớn có thể gom đầu mối quản lý, nhưng cũng làm tăng yêu cầu phân công, phối hợp và tổ chức hoạt động chung. Vì vậy, đánh giá hiệu quả sắp xếp không thể dừng ở số trường sau hợp nhất; cần nhìn vào khả năng vận hành từng cơ sở và mức độ thuận lợi cho học sinh.
Bảy phân hiệu và những khoảng cách khó xem nhẹ
Một trường tiểu học có tới 7 phân hiệu là Trường tiểu học Núi Thành. Con số ấy làm rõ một mặt khác của sắp xếp: một đơn vị hành chính thống nhất chưa chắc tạo thành một không gian học tập liền mạch. Ở khu vực miền núi, một số điểm trường cách trường chính tới 50 km. Thông tin từ Sở cũng nêu một trường mầm non có điểm trường lẻ cách cơ sở chính khoảng 30 km, còn hai cơ sở của trung tâm giáo dục thường xuyên cách nhau khoảng 70 km. Những khoảng cách này gây trở ngại cho việc đi lại, điều động nhân sự và sinh hoạt chuyên môn. Với giáo viên, phối hợp trực tiếp trở nên khó hơn; với học sinh, cơ hội tham gia hoạt động chung có thể phụ thuộc vào cách nhà trường tổ chức. Điểm trường lẻ vì thế không nên bị xem như phần phụ trong sơ đồ sau sáp nhập.
Khó khăn không chỉ nằm trên đường đi. Khi số lớp và điểm dạy tăng, việc tập trung toàn trường cho hoạt động chung cũng khó hơn, trong khi không gian tại trường chính có thể không đáp ứng thuận lợi như trước. Đây là lý do kết nối giữa các cơ sở cần được coi như một phần của quản lý, chứ không phải hoạt động bổ sung khi có thời gian. Sở GD-ĐT định hướng trường triển khai hoạt động theo cùng kế hoạch ở trường chính và các phân hiệu, để học sinh tại mọi điểm có cơ hội tham gia; đồng thời khuyến khích giao lưu phù hợp với điều kiện thực tế. Hướng đi này hợp lý, nhưng hiệu quả còn tùy vào việc kế hoạch có được điều chỉnh theo khoảng cách và điều kiện từng nơi hay không. Một lịch chung trên giấy sẽ ít ý nghĩa nếu giáo viên, học sinh ở các điểm xa không thể tham gia bình đẳng.

Thước đo thành công phải là khả năng vận hành
Sáp nhập có thể tạo đầu mối lớn hơn, nhưng không tự động giải quyết bài toán phân tán địa lý. Với 11 cơ sở trên 100 lớp và những trường có nhiều phân hiệu, ban giám hiệu cần vừa quản lý chuyên môn, vừa duy trì liên lạc và phân công nhân sự giữa các địa điểm. Khoảng cách hàng chục kilômét khiến cách điều hành dựa chủ yếu vào việc tập trung trực tiếp khó áp dụng thường xuyên. Vì vậy, đánh giá trường học Đà Nẵng sau sắp xếp nên chú ý đến chất lượng phối hợp giữa cơ sở chính và điểm trường lẻ, mức độ tham gia hoạt động của học sinh, cũng như khả năng duy trì sinh hoạt chuyên môn. Đây là những tiêu chí thiết thực hơn việc chỉ nhìn vào số lớp hoặc số đơn vị đã hợp nhất.
Bài toán tổ chức còn gắn với đội ngũ. Các địa phương đang rà soát nhu cầu tuyển dụng theo chỉ tiêu biên chế được giao, sau đó gửi danh sách về Sở GD-ĐT để phối hợp với Sở Nội vụ và xã, phường triển khai tuyển dụng trong thời gian tới. Sở cũng cho biết sẽ tổng hợp phản ánh của cán bộ, giáo viên, nhân viên cùng kết quả kiểm tra tại cơ sở để báo cáo UBND thành phố xem xét, chỉ đạo các đơn vị liên quan phối hợp giải quyết. Những bước tiếp theo này cần gắn với thực tế phân bố điểm trường: đủ người ở cấp trường thôi chưa chắc đã giải quyết được nhu cầu tại từng phân hiệu. Thành công của đợt sắp xếp sẽ được đo bằng việc các cơ sở xa vẫn được vận hành ổn định, giáo viên phối hợp được và học sinh không bị đứng ngoài hoạt động chung. Quy mô lớn chỉ có ý nghĩa khi đi cùng khả năng kết nối.






