Từ quyền học tập đến nghĩa vụ hoàn thành chương trình
Giáo dục bắt buộc theo Nghị định 353 là yêu cầu người học trong độ tuổi luật định phải hoàn thành chương trình giáo dục tiểu học và trung học theo quy định pháp luật. Điểm thay đổi đáng chú ý không phải là phủ nhận quyền được giáo dục, mà là đặt thêm trách nhiệm pháp lý để quyền ấy không dừng ở lời kêu gọi.
Từ ngày 1 tháng 11, trẻ từ 6 đến 14 tuổi chưa hoàn thành chương trình tiểu học phải đi học; yêu cầu tương tự áp dụng với thanh thiếu niên từ 11 đến 18 tuổi chưa hoàn tất trung học cơ sở. Như vậy, nghĩa vụ đến trường không đồng nghĩa mọi trẻ phải theo cùng một lộ trình đến hết phổ thông. Quy định tập trung vào việc hoàn thành các chương trình tiểu học và trung học thuộc diện bắt buộc.
Sự phân biệt giữa phổ cập giáo dục và giáo dục bắt buộc là cốt lõi của chính sách: phổ cập nhấn mạnh mục tiêu mở rộng cơ hội, còn bắt buộc xác lập nghĩa vụ hoàn thành chương trình. Với học sinh phổ thông, thông điệp này rõ ràng hơn trước: việc học ở các cấp được quy định không còn chỉ là điều Nhà nước khuyến khích.

Nghĩa vụ của gia đình phải đi cùng trách nhiệm của Nhà nước
Nghị định yêu cầu cha mẹ và người giám hộ bảo đảm điều kiện, cơ hội để trẻ hoàn thành việc học. Đây là trách nhiệm cần thiết, nhưng sẽ thiếu công bằng nếu nghĩa vụ được đặt lên gia đình mà những trở ngại về nghèo khó, giấy tờ hay hoàn cảnh sống không được giải quyết. Trẻ bỏ học vì phải phụ giúp gia đình không thể được nhìn nhận như một trường hợp chỉ cần nhắc nhở.
Phản ứng của công chúng cho thấy chính sách vừa được hoan nghênh, vừa khơi lên câu hỏi thiết thực: ai chịu trách nhiệm để mọi trẻ có thể đến lớp, kể cả khi thiếu tiền hoặc giấy tờ? Đó không phải phản đối mục tiêu giáo dục bắt buộc; đó là phép thử về cách thực hiện. Nếu không có hỗ trợ phù hợp, quy định có nguy cơ biến khó khăn của trẻ thành lỗi của gia đình.
Vì vậy, tiêu chí thành công không thể chỉ là số trường hợp được ghi nhận đã hoàn thành chương trình. Cần nhìn vào việc trẻ có thực sự tiếp cận được lớp học, có thể duy trì việc học và được hỗ trợ khi hoàn cảnh cản trở hay không.
Linh hoạt học tập là điều kiện để không bỏ ai lại phía sau
Một điểm tiến bộ của Nghị định 353 là mở đường cho người quá tuổi đi học nhưng chưa hoàn thành tiểu học hoặc trung học tiếp tục học qua hệ thống giáo dục thường xuyên. Chính quyền địa phương có thể tổ chức lớp với thời gian và địa điểm linh hoạt, phù hợp điều kiện làm việc, hoàn cảnh của người học. Cách tiếp cận này thừa nhận rằng nghĩa vụ học tập không thể thực hiện bằng một khuôn mẫu duy nhất.
Quy định cũng đề cập người từ 15 đến 60 tuổi chưa biết chữ và hỗ trợ người học các chương trình xóa mù chữ bằng sách, vở, tài liệu và đồ dùng học tập từ ngân sách nhà nước. Đây là hỗ trợ cụ thể, nhưng không nên bị hiểu là mọi chi phí liên quan đến việc học của mọi gia đình đều đã được giải quyết.
Muốn nghĩa vụ đến trường có ý nghĩa nhân văn, địa phương cần chủ động nhận diện trẻ có nguy cơ nghỉ học, kết nối các em với phương án học phù hợp và làm rõ đầu mối hỗ trợ. Quy định đặt ra đích đến; năng lực bảo đảm con đường đến đó mới quyết định trẻ có tới được lớp hay không.
Kết luận: nghĩa vụ chỉ có sức nặng khi cơ hội học tập là thật
Việc chuyển từ khuyến khích sang nghĩa vụ là một bước xác lập ưu tiên xã hội: hoàn thành giáo dục tiểu học và trung học không nên phụ thuộc vào lựa chọn của người lớn hay hoàn cảnh ngẫu nhiên của trẻ. Sự ủng hộ dành cho chính sách phản ánh kỳ vọng rằng học tập là nền tảng để mỗi người có thêm cơ hội trong cuộc sống.
Nhưng trách nhiệm pháp lý chỉ chính đáng khi đi kèm trách nhiệm bảo đảm. Gia đình cần tạo điều kiện cho con học; Nhà nước và chính quyền địa phương phải làm cho cơ hội ấy có thể tiếp cận được, kể cả với người nghèo, trẻ thiếu giấy tờ và người học đã quá tuổi phổ thông. Nghị định 353 sẽ được đánh giá không chỉ qua điều khoản bắt buộc, mà qua việc có bao nhiêu người học được hỗ trợ để hoàn thành chương trình.






