Logistics xanh đang thành điều kiện vào thị trường
Logistics xanh là cách tổ chức vận chuyển, lưu kho và phân phối nhằm giảm phát thải, hạn chế lãng phí và sử dụng hiệu quả nguồn lực trên toàn chuỗi cung ứng, chứ không chỉ thay phương tiện bằng loại ít phát thải hơn. Đây là định nghĩa quan trọng vì cuộc cạnh tranh hiện nay không còn dừng ở giá xuất xưởng: hàng hóa phải đi qua chuỗi vận hành minh bạch, hiệu quả và đáp ứng các tiêu chuẩn xanh. Ngày 27/10, tại Diễn đàn Kinh tế Mùa thu năm 2026 ở TP.HCM, các đại biểu bàn giải pháp kết nối sản xuất công nghiệp, cảng biển, dịch vụ logistics và công nghệ số để giảm phát thải, nâng sức cạnh tranh. TS. Bùi Bá Nghiêm, chuyên viên cao cấp Cục Xuất nhập khẩu, nhấn mạnh logistics cần gắn với công nghệ, dữ liệu và năng lực cạnh tranh. Với logistics xanh Việt Nam, đây không phải lựa chọn trang trí thương hiệu mà là điều kiện ngày càng thiết thực để tiếp cận thị trường và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

Muốn giảm chi phí, phải sửa cả chuỗi vận hành
Chi phí logistics cao đang bào mòn khả năng cạnh tranh hàng hóa ngay cả khi doanh nghiệp sản xuất tốt. Tại diễn đàn, mức chi phí logistics của Việt Nam được nêu tương đương 16–18% GDP, so với khoảng 10–12% trên thế giới. Áp lực không chỉ đến từ giá cước: xe chạy rỗng chiều về, hàng chờ ở cảng, chứng từ xử lý rời rạc và dữ liệu không được chia sẻ đều làm tăng thời gian lẫn chi phí. Vận tải đường bộ chiếm khoảng 75,7% khối lượng hàng hóa vận chuyển, trong khi kết nối liên vùng chưa đồng bộ càng khiến hệ thống dễ nghẽn. Vì vậy, số hóa dữ liệu logistics cần bắt đầu từ nhu cầu vận hành cụ thể: dùng chung dữ liệu, đơn giản hóa chứng từ, phối hợp giao nhận và theo dõi hiệu suất. Logistics xanh chỉ tạo lợi thế khi chi phí giảm mà chất lượng dịch vụ vẫn tăng.

Kết nối đa phương thức, lấy cảng nước sâu làm cửa ngõ
TP.HCM cần biến lợi thế vị trí thành năng lực cạnh tranh bằng kết nối vận tải đa phương thức, số hóa hoạt động logistics và phối hợp hiệu quả hơn giữa các chủ thể trong chuỗi. Đây là bài toán hạ tầng lẫn quản trị: nhà máy, vùng sản xuất, kho bãi, hãng tàu, hải quan và thị trường quốc tế phải vận hành như một mạng lưới, thay vì các mắt xích tách biệt. Cụm cảng nước sâu Cái Mép – Thị Vải có tiềm năng kết nối sản xuất, xuất khẩu với các tuyến vận tải quốc tế. Một hướng đi được đề xuất là thí điểm hành lang logistics xanh nối vùng sản xuất với cảng này, đồng thời phát triển chuỗi lạnh cho nông sản Đồng bằng sông Cửu Long. Vai trò của cảng nước sâu vì thế không chỉ là tiếp nhận tàu lớn; cảng phải trở thành cửa ngõ được kết nối thông suốt với nơi tạo ra hàng hóa.

Thí điểm phải đo được hiệu quả trước khi nhân rộng
Các dự án xanh không nên được đánh giá bằng số phương tiện mới hay khẩu hiệu giảm phát thải. Ngay từ đầu, cần ghi nhận mức tiêu thụ năng lượng, chi phí trên mỗi đơn vị hàng, tỷ lệ giao đúng hẹn, xe chạy rỗng và tổn thất hàng hóa; dữ liệu phải đủ tin cậy để so sánh trước và sau thí điểm. Cách làm này giúp doanh nghiệp nhận ra giải pháp nào vừa giảm phát thải vừa cải thiện hiệu quả, thay vì gánh thêm thủ tục mà không có lợi ích vận hành rõ ràng. TP.HCM cần hỗ trợ doanh nghiệp bằng hạ tầng liên thông, nền tảng chia sẻ dữ liệu, đào tạo nhân lực và khả năng tiếp cận vốn phù hợp. Việt Nam đặt mục tiêu đưa chi phí logistics xuống tương đương 12–15% GDP vào năm 2035. Muốn tiến gần mục tiêu đó, thành phố cần mở rộng những mô hình đã chứng minh kết quả. Logistics xanh chỉ có sức cạnh tranh khi công nghệ, dữ liệu và kết nối hạ tầng cùng giải quyết được chi phí thực.







