Nền móng tri thức quyết định bước đột phá
Khoa học cơ bản là hoạt động nghiên cứu nhằm khám phá các quy luật và tạo ra tri thức mới, làm nền tảng để phát triển công nghệ lõi, đào tạo nhân lực nghiên cứu trình độ cao và hình thành năng lực tự chủ công nghệ quốc gia. Vì vậy, muốn làm chủ công nghệ chiến lược, không thể chỉ bắt đầu từ mục tiêu sản phẩm hay thiết bị.
Ngày 23/10/2026, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức hội nghị khoa học về chiến lược phát triển nghiên cứu cơ bản và đóng góp của lĩnh vực này cho sản phẩm chiến lược quốc gia. Sự kiện diễn ra trong bối cảnh Nghị quyết 57 đặt ra yêu cầu để nghiên cứu vừa tạo tri thức, vừa góp phần hình thành năng lực công nghệ và giá trị thực tiễn. Đây là chuyển hướng cần thiết, nhưng sẽ thất bại nếu bị hiểu thành ép mọi nghiên cứu phải cho ra sản phẩm tức thời.
Khoảng cách từ phát hiện khoa học đến sản phẩm không thể được rút ngắn bằng mệnh lệnh hành chính. Nghiên cứu cơ bản mở ra khả năng đi từ “không có” đến “có”, nơi cải tiến những gì đã tồn tại không còn đủ. Toán học và thống kê làm nền cho học máy; vật lý chất rắn và vật lý lượng tử gắn với bán dẫn; sinh học phân tử và miễn dịch học góp phần tạo nền tảng cho công nghệ chỉnh sửa gen và vắc-xin mRNA. Nếu thiếu lớp tri thức này, việc tiếp nhận công nghệ dễ dừng ở sử dụng, khó tiến tới sáng tạo.

Bài toán lớn không vừa chu kỳ tài trợ ngắn
Nghiên cứu đột phá cần thời gian để đặt câu hỏi, thử nghiệm, thất bại, kiểm chứng rồi mới tìm thấy hướng ứng dụng. Bởi vậy, tài trợ ngắn hạn dựa quá nhiều vào kết quả tức thì có thể đẩy các nhóm khoa học về phía đề tài an toàn, dễ báo cáo, nhưng ít cơ hội mở ra công nghệ mới. Hiệu trưởng Lê Thanh Sơn kêu gọi xây dựng chương trình dài hạn để các nhóm theo đuổi bài toán lớn thay vì bị giới hạn bởi những chu kỳ tài trợ ngắn.
Hướng đi được nêu tại hội nghị là thiết kế hai kênh qua Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia: tài trợ nghiên cứu cơ bản khám phá tự do và nghiên cứu cơ bản định hướng vào ưu tiên chiến lược; đồng thời nghiên cứu cơ chế tài trợ từ 5 đến 10 năm và chấp nhận rủi ro khoa học. Dự thảo chiến lược quốc gia về nghiên cứu cơ bản đến năm 2045 cũng đề cập tài trợ đa niên, chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm và bình duyệt đồng cấp.
Đầu tư dài hạn không đồng nghĩa với cấp kinh phí vô điều kiện. Nó đòi hỏi đánh giá nghiêm túc theo tiến độ khoa học, đồng thời chấp nhận rằng một kết quả âm tính hoặc giả thuyết không thành công vẫn có thể đem lại hiểu biết hữu ích. Nếu chỉ đo thành công bằng sản phẩm thương mại trước mắt, chính sách sẽ làm mất đi không gian cần thiết để hình thành tri thức nền tảng.

Danh mục ưu tiên cần đi cùng con người và liên kết
Quyết định 21/2026/QĐ-TTg ban hành ngày 30/04/2026 xác định 10 nhóm công nghệ chiến lược và 30 sản phẩm công nghệ chiến lược, trải từ trí tuệ nhân tạo, chip bán dẫn, công nghệ lượng tử đến vật liệu, năng lượng tiên tiến và công nghệ sinh học. Danh mục này cho biết đất nước muốn tập trung vào đâu; nó chưa tự tạo ra đội ngũ có thể nghiên cứu, thử nghiệm và sản xuất.
Làm chủ công nghệ gắn chặt với đào tạo nhân lực chất lượng cao trong các đại học và viện nghiên cứu. Các nhóm mạnh, phòng thí nghiệm đủ năng lực và cơ hội để nhà khoa học theo đuổi nghiên cứu lâu dài tạo thành một hệ thống, không phải những khoản đầu tư rời rạc. Để kết quả đi tiếp từ tri thức nền tảng sang công nghệ được kiểm chứng rồi thành sản phẩm, cần liên kết thực chất giữa trường, viện, doanh nghiệp và cơ quan quản lý.
Năng lực tự chủ công nghệ không chỉ là có sản phẩm mang tên trong nước, mà là có khả năng tạo ra tri thức, hiểu nguyên lý, sửa đổi và phát triển công nghệ theo nhu cầu của mình. Một hướng được đề xuất là thí điểm mô hình tổ chức nghiên cứu - công nghệ tại các trường đại học để nối nghiên cứu với phát triển công nghệ. Đây là việc đáng làm, miễn là không biến đại học thành xưởng chạy theo đơn hàng ngắn hạn và vẫn bảo vệ được không gian cho khoa học cơ bản.
Tự chủ còn phụ thuộc vào việc công nghệ phục vụ ai
Một công nghệ chỉ có giá trị khi được xã hội sử dụng phù hợp. Sản phẩm có thể đạt yêu cầu kỹ thuật nhưng vẫn khó được tiếp nhận nếu không hợp ngôn ngữ, văn hóa, hành vi người dùng hoặc yêu cầu quản trị dữ liệu. Vì thế, phát triển công nghệ chiến lược không thể chỉ là câu chuyện của kỹ sư và phòng thí nghiệm.
Khoa học xã hội và nhân văn giúp đặt công nghệ trong bối cảnh con người, thể chế và văn hóa; đồng thời hỗ trợ đánh giá bằng chứng, nhận diện thiên kiến và cân nhắc đạo đức khi ứng dụng AI hay chuyển đổi số. Với sản phẩm như AI tiếng Việt, nền tảng dữ liệu văn hóa hay công nghệ giáo dục, hiểu người dùng và môi trường triển khai là một phần của năng lực công nghệ, không phải khâu trang trí sau cùng.
Kết luận cần rõ ràng: muốn làm chủ công nghệ chiến lược, Việt Nam phải đầu tư bền bỉ cho khoa học cơ bản, nhân lực và các cầu nối đưa kết quả nghiên cứu đến ứng dụng. Nếu chỉ tài trợ phần ngọn hoặc đòi kết quả tức thì, danh mục ưu tiên sẽ khó trở thành năng lực tự chủ. Đầu tư dài hạn không bảo đảm mọi nghiên cứu thành công, nhưng thiếu nó thì khả năng tạo ra công nghệ lõi của chính mình còn mong manh hơn.






