Khoa học cơ bản là điểm khởi đầu của tự chủ công nghệ
Khoa học cơ bản là hoạt động nghiên cứu tạo ra tri thức nền tảng về tự nhiên, xã hội và các quy luật vận hành, từ đó mở đường cho công nghệ mới và năng lực tự chủ lâu dài. Vì vậy, không thể đòi hỏi công nghệ chiến lược hình thành bền vững nếu thiếu đầu tư cho nghiên cứu nền tảng.
Hội nghị khoa học tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN tập trung vào cách phát triển khoa học cơ bản gắn với các ưu tiên công nghệ quốc gia. Sự kiện diễn ra khi các nghị quyết của Bộ Chính trị và quyết định của Thủ tướng đặt ra danh mục 10 nhóm công nghệ, 30 sản phẩm công nghệ chiến lược, từ trí tuệ nhân tạo, chip bán dẫn đến công nghệ sinh học và năng lượng tiên tiến.
Quy mô hội nghị cho thấy đây không phải cuộc trao đổi riêng của một trường: hơn 200 đại biểu dự phiên toàn thể, còn tuyển tập ghi nhận 247 báo cáo thuộc 8 tiểu ban chuyên môn. Thông điệp đáng chú ý là khoa học cơ bản không đứng ngoài mục tiêu ứng dụng; nó cung cấp tri thức để bước từ ý tưởng chưa có tiền lệ đến công nghệ có thể phát triển.

Từ tri thức nền đến các ưu tiên quốc gia
Khoảng cách giữa một bài báo khoa học và sản phẩm chiến lược không thể được lấp bằng cách yêu cầu nhà khoa học chạy theo thị trường ngắn hạn. Cần định hướng nghiên cứu đủ rõ để các ngành nền tảng như toán học, vật lý, hóa học, khoa học sự sống, khoa học Trái Đất và môi trường có thể đóng góp cho những lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, vi mạch bán dẫn, vật liệu mới và lưu trữ năng lượng.
Thực tiễn tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN cho thấy mức độ gắn kết đã có cơ sở: 44% đề tài và 72% bài báo WoS giai đoạn 2021–2026 liên quan trực tiếp đến công nghệ chiến lược. Nhà trường có gần 500 nhà khoa học, 81 phòng thí nghiệm với hơn 6.000 thiết bị và công bố trung bình 600–700 bài Scopus/WoS mỗi năm. Những con số này phản ánh năng lực nghiên cứu, nhưng cũng đặt ra câu hỏi quan trọng hơn: làm sao chuyển tri thức thành công nghệ lõi và sản phẩm.
Đề xuất của Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQG-HCM hướng tới mô hình liên kết bốn pha: khởi tạo đầu vào, phát triển lõi nghiên cứu, thiết lập trung gian chuyển hóa và hình thành đầu ra. Cách thiết kế này hợp lý vì thừa nhận rằng nghiên cứu đại học không thể tự mình đảm nhiệm toàn bộ con đường từ phát hiện khoa học đến sản phẩm.

Hợp tác liên trường phải nối liền các mắt xích
Mô hình chỉ có giá trị nếu phân công vai trò rõ ràng. Nhà nước cần định hướng và bảo đảm nguồn lực dài hạn; các trường đại học phát triển nghiên cứu và đào tạo nhân lực; tổ chức trung gian đánh giá, hoàn thiện, hỗ trợ thương mại hóa; doanh nghiệp kết nối thị trường, tiếp nhận và đưa sản phẩm vào thực tiễn. Nếu thiếu một mắt xích, tri thức có thể dừng lại trong phòng thí nghiệm.
Hợp tác giữa các trường cũng cần đi xa hơn việc chia sẻ diễn đàn. ĐHQGHN được xác định là đầu mối thúc đẩy liên kết liên ngành, liên cơ sở; các đại học nghiên cứu có thể bổ trợ thế mạnh, hình thành nhóm nghiên cứu và chuỗi đào tạo nhân lực cho các công nghệ ưu tiên. Đoàn Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQG-HCM do PGS.TS Trần Minh Triết dẫn đầu đã tham gia hội nghị, minh họa cho nỗ lực kết nối hai trung tâm đại học quốc gia.
Hội nghị đồng thời hướng tới hoàn thiện Chiến lược quốc gia về phát triển nghiên cứu khoa học cơ bản đến năm 2045, cùng cơ chế và nguồn lực phù hợp. Mạng lưới hội nghị giữa các trường trọng điểm hai miền sẽ tiếp tục được duy trì; Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQG TP.HCM dự kiến đăng cai kỳ tiếp theo vào năm tới.

Sản phẩm chiến lược cần một chiến lược nghiên cứu dài hạn
Thách thức không nằm ở việc chọn giữa nghiên cứu cơ bản và ứng dụng, mà ở khả năng tổ chức chúng thành một chuỗi liên tục. Trường đại học tạo tri thức mới và đào tạo người kế cận; viện nghiên cứu, doanh nghiệp và cơ quan quản lý cùng đưa định hướng, kiểm chứng và năng lực sản xuất vào quá trình phát triển. Đó là điều kiện để sản phẩm chiến lược bắt nguồn từ năng lực trong nước, thay vì chỉ dừng ở mục tiêu trên giấy.
Muốn vậy, chính sách phải kiên nhẫn với nghiên cứu nền tảng, đồng thời đặt ra các hướng ưu tiên đủ cụ thể để phối hợp nguồn lực. Đầu tư nhóm nghiên cứu mạnh, phòng thí nghiệm trọng điểm và liên minh nghiên cứu liên trường có thể giúp nối các tầng từ tri thức đến công nghệ, nhưng hiệu quả còn phụ thuộc vào cơ chế chuyển giao và sự tham gia thực chất của doanh nghiệp.
Kết luận, đại học quốc gia và các trường nghiên cứu trọng điểm không chỉ đào tạo nhân lực mà còn phải dẫn dắt sự phối hợp tạo ra công nghệ. Khoa học cơ bản là nền móng; hợp tác liên trường và định hướng dài hạn là cây cầu. Nếu thiếu một trong hai, tham vọng hình thành sản phẩm chiến lược khó chuyển thành năng lực tự chủ.







