Ghi danh không đồng nghĩa với di sản đã an toàn
Gốm Chăm là nghề thủ công của cộng đồng người Chăm, kết tinh kỹ năng tạo hình, tri thức dân gian và tập quán nung gốm gắn với nghệ nhân cùng không gian làng nghề. Năm 2022, nghệ thuật làm gốm của người Chăm được UNESCO ghi danh vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp. Nhưng danh hiệu ấy không phải tấm khiên tự bảo vệ nghề: sau bốn năm, các dấu hiệu suy giảm cho thấy việc ghi danh chỉ có ý nghĩa nếu đời sống thực hành được duy trì. Ở Bàu Trúc, số người thực hành giảm từ 455 người năm 2019 xuống 360 người năm 2024, trong khi chỉ còn sáu nghệ nhân có khả năng truyền dạy. Đây không phải con số phụ trợ cho hồ sơ di sản; đó là lực lượng quyết định nghề còn được làm và truyền tiếp hay không.

Khi lò tắt, sinh kế và tri thức cùng rời đi
Câu chuyện nghệ nhân Đàng Thị Tám cho thấy nguy cơ không nằm trên giấy. Trong cuộc phỏng vấn năm 2025, bà cho biết đã bỏ gốm và lò nung vì không làm được, không bán được; sân nhà được lát lại để làm bánh tráng bán lên Thành phố Hồ Chí Minh. Khi một gia đình chuyển nghề, cộng đồng mất hơn một người thợ: nơi nung, nhịp thực hành và cơ hội học nghề cũng có thể biến mất. Trường hợp nghệ nhân ưu tú Đàng Xem cho thấy thêm khoảng trống về ghi nhận xuất xứ: sản phẩm của ông không được khắc tên người làm hay tên làng, nên sau khi ông mất, việc xác định sản phẩm và nối lại tri thức truyền nghề trở nên khó khăn. Năm 2019, vợ ông bán sản phẩm với giá 50.000 đồng một món, trong khi món có kích cỡ tương tự của một học trò đời thứ hai trong dòng gốm Bizen được bán với giá 6.000.000 đồng. Chênh lệch ấy không chứng minh gốm Bàu Trúc kém giá trị; nó cho thấy nghề cần cách ghi nhận nghệ nhân, nguồn gốc và dòng truyền dạy.
Bảo tồn vì thế không thể chỉ dừng ở trưng bày sản phẩm hay tổ chức trải nghiệm cho khách. Nếu nghệ nhân thiếu thu nhập ổn định và người trẻ không nhìn thấy tương lai từ nghề, việc truyền dạy khó bền vững. Du khách đến làng gốm Bàu Trúc tăng từ hơn 11.000 lượt năm 2023 lên hơn 17.000 lượt năm 2025, nhưng lượng khách chỉ trở thành lợi ích cho di sản khi tạo được đầu ra và thu nhập thực chất cho cộng đồng.

Chính sách địa phương phải giữ được điều kiện để nghề tiếp tục sống
Khánh Hòa đã yêu cầu các cơ quan, đơn vị và địa phương tiếp tục rà soát, thực hiện nhiệm vụ trong Chương trình hành động quốc gia và đề án quản lý, bảo vệ, phát huy giá trị di sản. Cuối năm 2025, tỉnh phê duyệt đề án giai đoạn 2025–2028 và các năm tiếp theo, với tổng kinh phí hơn 205 tỷ đồng. Mức đầu tư ấy chỉ phát huy tác dụng nếu chuyển thành việc làm cụ thể: duy trì thực hành, truyền nghề, bảo đảm nguyên liệu, hỗ trợ phát triển sản phẩm, tư liệu hóa và kết nối bảo tồn với sinh kế. Tỉnh giao Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch làm đầu mối theo dõi, hướng dẫn và báo cáo hằng tháng; chính quyền xã Ninh Phước phối hợp xử lý vấn đề đất đai, nguyên liệu, môi trường và hạ tầng tại Bàu Trúc. Đây là phép thử của chính sách: phân công rõ ràng phải dẫn tới điều kiện để nghệ nhân tiếp tục làm nghề.
Bảo vệ di sản còn đòi hỏi giữ không gian và nguồn lực làm gốm, từ đất sét ven sông Quao, cát sông Lu, nguồn củi đến hồ Bàu Súc và sân nung; đồng thời bảo đảm thợ gốm tiếp cận đất và xem xét tác động di sản trước các dự án đô thị. Nếu những điều kiện ấy bị xem như phần phụ của quy hoạch, kỹ thuật làm gốm khó tồn tại ngoài sân khấu du lịch. Chính sách địa phương cần bảo vệ cả hệ sinh thái nghề, không chỉ sản phẩm cuối cùng.

Từ kế hoạch đến kết quả: đo bằng người còn làm nghề
Đề án của tỉnh đặt mục tiêu đưa nghệ thuật làm gốm của người Chăm ra khỏi tình trạng cần bảo vệ khẩn cấp, xây dựng tiêu chuẩn chất lượng, đăng ký nhãn hiệu Gốm Chăm cho sản phẩm Bàu Trúc, quy hoạch không gian văn hóa làng nghề và mô hình du lịch dựa vào cộng đồng; xa hơn là hướng tới danh hiệu di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Tỉnh cũng đang triển khai cuộc thi thiết kế sản phẩm gốm của người Chăm năm 2026. Những hoạt động này có thể mở thêm thị trường, nhưng thiết kế mới và du lịch không nên lấn át tiếng nói của người làm nghề hoặc làm phai dấu nguồn gốc sản phẩm. UNESCO nhấn mạnh vai trò của nghệ nhân đối với tính xác thực của di sản; bởi vậy, ghi nhận người làm, xuất xứ và quan hệ truyền nghề cần đi cùng quảng bá.
Thước đo cuối cùng không phải số sự kiện hay lượng khách, mà là liệu nghệ nhân có thể sống bằng nghề, người trẻ có cơ hội học nghề và các lò còn được nhóm lên trong chính không gian cộng đồng hay không. Khánh Hòa đã có kế hoạch, kinh phí và đầu mối triển khai; giờ đây, trách nhiệm là biến chúng thành điều kiện thực tế cho người thợ. Ghi danh UNESCO làm rõ giá trị của gốm Chăm, còn bảo vệ di sản đòi hỏi duy trì cộng đồng và sinh kế đã tạo nên giá trị ấy.







