Tăng trưởng hai con số cần một động lực mới
Tăng trưởng GDP hai con số là mục tiêu tăng trưởng bình quân từ 10% mỗi năm trở lên, đòi hỏi một nền kinh tế tạo được năng suất và giá trị mới thay vì chỉ mở rộng các động lực sẵn có. Phát biểu tại phiên toàn thể cấp cao của Diễn đàn Kinh tế Mùa thu sáng 28/10, Thủ tướng Lê Minh Hưng nêu quyết tâm theo đuổi mục tiêu này trong giai đoạn phát triển bản lề của Việt Nam. Đây là tham vọng lớn, nhưng không thể đạt bền vững chỉ bằng cách tăng quy mô sản xuất hay thu hút thêm đầu tư. Trong chín tháng đầu năm 2026, GDP tăng 9,01%, mức cao nhất kể từ năm 2011. Con số ấy cho thấy đà tăng trưởng đáng kể, song cũng đặt ra câu hỏi khó hơn: làm sao duy trì nhịp độ cao khi mô hình dựa vào những động lực truyền thống đang bộc lộ giới hạn? Câu trả lời phải nằm ở năng suất, công nghệ và năng lực tạo ra sản phẩm có hàm lượng tri thức cao.
Áp lực đổi hướng không chỉ đến từ yêu cầu trong nước. Cạnh tranh chiến lược, nguy cơ đứt gãy chuỗi cung ứng và các rủi ro an ninh đang thúc đẩy kinh tế toàn cầu phân mảnh, trong khi trí tuệ nhân tạo và chuyển đổi số làm thay đổi nhanh cách sản xuất, quản trị và phân bổ lợi thế. Vì vậy, mục tiêu tăng trưởng trên 10% không nên được hiểu đơn thuần là chỉ tiêu về tốc độ; nó là phép thử xem Việt Nam có chuyển được từ tăng trưởng theo chiều rộng sang tăng trưởng dựa trên tri thức hay không.

Từ cứ điểm sản xuất đến trung tâm R&D
Tham vọng trở thành trung tâm R&D và đổi mới sáng tạo toàn cầu là phần then chốt trong lời giải tăng trưởng, chứ không phải khẩu hiệu bổ sung cho mục tiêu GDP. Thủ tướng nhấn mạnh Việt Nam cần vượt khỏi vai trò cứ điểm sản xuất để trở thành nơi nghiên cứu và phát triển, nhất là trong các lĩnh vực công nghệ chiến lược như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn và vật liệu mới. Hướng đi này có ý nghĩa thực tế: nếu doanh nghiệp chỉ lắp ráp hoặc gia công, phần giá trị tri thức và quyền định hình công nghệ sẽ chủ yếu nằm ở nơi khác. Muốn tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu, Việt Nam cần thu hút đối tác cùng đầu tư, cùng sáng tạo và xây dựng năng lực nghiên cứu trong nước.
Nền tảng đổi mới sáng tạo đã có dấu hiệu tiến lên: Việt Nam xếp thứ 43 trong 139 nền kinh tế ở Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu năm 2026. Nhưng thứ hạng chỉ là điểm khởi đầu, không thay thế được năng lực làm chủ công nghệ, kết nối viện nghiên cứu với doanh nghiệp hay thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Nếu muốn vị thế R&D chuyển thành năng suất và tăng trưởng, chính sách phải giúp nhân lực khoa học, doanh nghiệp trong nước và tập đoàn quốc tế hợp tác trên những dự án tạo ra tri thức và năng lực thực chất.
Đối thoại với WEF: thích ứng phải đi cùng kiến tạo
Trong cuộc đối thoại với Giám đốc điều hành Diễn đàn Kinh tế Thế giới Stephan Mergenthaler tại Diễn đàn Kinh tế Mùa thu ngày 28/10, Thủ tướng trao đổi về chuyển động kinh tế toàn cầu, các động lực tăng trưởng mới và cơ hội hợp tác. Trọng tâm này đúng với bài toán của Việt Nam: thích ứng trước bất định là cần thiết, nhưng chỉ phòng thủ trước cú sốc thì chưa đủ. Một nền kinh tế có độ mở cao cần đa dạng hóa thị trường, đối tác và nguồn cung, đồng thời củng cố năng lực tự chủ để biến biến động thành cơ hội nâng cấp sản xuất.
Tự chủ chiến lược cũng không đồng nghĩa với khép kín. Lập trường được nêu trong đối thoại là nâng cao năng lực tự quyết song song với hội nhập quốc tế chủ động, sâu rộng và hiệu quả. Cách tiếp cận ấy giúp đặt hợp tác quốc tế vào đúng vai trò: không chỉ bổ sung vốn hay mở rộng thị trường, mà còn hỗ trợ xây dựng năng lực công nghệ, nhân lực và sức chống chịu. Đối thoại với WEF vì vậy có giá trị khi mở đường cho hợp tác cụ thể, thay vì dừng ở việc chia sẻ tầm nhìn.
Ưu tiên chính sách để nối mục tiêu với năng lực
Để tăng trưởng GDP gắn được với đổi mới sáng tạo, trước hết cần kiên định chuyển mô hình tăng trưởng, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực hàng đầu. Nhưng định hướng chỉ có tác dụng khi đi kèm nguồn lực và thực thi: đào tạo nhân tài số, phát triển nhân lực khoa học công nghệ mũi nhọn, giúp doanh nghiệp tiếp nhận, ứng dụng và làm chủ công nghệ. Kế đó, cải cách thể chế và nâng chất lượng quản trị phải giảm thời gian, chi phí tuân thủ, tạo môi trường thuận lợi để nghiên cứu và đầu tư dài hạn. Chính phủ cho biết sẽ tiếp tục phối hợp với Quốc hội hoàn thiện đồng bộ thể chế, khơi thông nguồn lực trong nước và quốc tế.
Các ưu tiên này cần được nối thành một chuỗi chính sách thống nhất: thể chế khuyến khích đầu tư cho nghiên cứu; nhân lực đủ khả năng vận hành và phát triển công nghệ; doanh nghiệp có điều kiện đưa kết quả nghiên cứu ra thị trường; và hợp tác quốc tế tạo cơ hội tham gia chuỗi giá trị mới. Mốc hướng tới trở thành nước phát triển có thu nhập cao vào năm 2045 khiến giai đoạn 2026–2030 mang tính bản lề. Kết luận là rõ ràng: tham vọng tăng trưởng trên 10% chỉ đáng tin khi Việt Nam đồng thời xây được năng lực R&D và đổi mới sáng tạo. Nếu không, mục tiêu tốc độ có thể vượt xa nền tảng tạo ra giá trị.






