Giải ngân nhanh không thể thay thế hiệu quả
Giải ngân kinh phí khoa học là quá trình đưa ngân sách đã được phân bổ vào các nhiệm vụ nghiên cứu, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, với mục tiêu cuối cùng là tạo ra kết quả có thể kiểm chứng và ứng dụng. Tính đến ngày 26/10/2026, cả nước đã giải ngân 21.693,48 tỷ đồng trên tổng dự toán 52.680,28 tỷ đồng, tương đương 41,18%; khoảng 30.987 tỷ đồng vẫn chưa được triển khai. Con số này đòi hỏi các cơ quan tăng tốc trong phần còn lại của năm, nhưng chạy theo tỷ lệ giải ngân sẽ là cách xử lý sai nếu nhiệm vụ chưa sẵn sàng hoặc thiếu đầu ra rõ ràng. Bộ Khoa học và Công nghệ đề nghị địa phương rà soát nguyên nhân chậm, đồng thời yêu cầu kinh phí gắn với tiến độ và kết quả, không giải ngân hình thức để đạt chỉ tiêu. Áp lực hiện nay vì thế không chỉ là chi cho hết, mà là chi đúng việc.

Bài học từ 17.000 tỷ đồng ngân sách nghiên cứu
Thước đo đầu ra càng quan trọng khi nhìn lại giai đoạn 2021-2025: 42 chương trình với khoảng 4.800 nhiệm vụ nghiên cứu sử dụng 17.000 tỷ đồng, nhưng còn ít kết quả trở thành sản phẩm trên thị trường. Phó thủ tướng Hồ Quốc Dũng nêu thực trạng này tại hội nghị trực tuyến toàn quốc ngày 23/10, nơi ông thúc đẩy liên kết viện nghiên cứu, trường đại học với doanh nghiệp. Nguyên nhân đáng chú ý là nhiều đề tài chưa xuất phát từ bài toán phát triển và nhu cầu ứng dụng của doanh nghiệp. Một số viện, trường còn e ngại định giá tài sản trí tuệ; kết nối cung cầu công nghệ vẫn thiên về giới thiệu, trình diễn. Đây không đơn thuần là chuyện chậm thương mại hóa sau nghiên cứu. Đó là dấu hiệu ngân sách nghiên cứu có thể bị phân bổ trước khi xác định ai cần kết quả, ai có thể ứng dụng và con đường đưa sản phẩm ra thị trường.
Đánh giá hiệu quả vì vậy phải vượt khỏi số đề tài được nghiệm thu. Cần nhìn vào nhiệm vụ thực tế được giải quyết, hợp đồng hợp tác và sản phẩm được ứng dụng. Nếu thiếu các tiêu chí ấy, tốc độ giải ngân cao vẫn có thể che khuất khoảng cách giữa hoạt động nghiên cứu và đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp.

Rà điểm nghẽn, nhưng không nới lỏng trách nhiệm
Tỷ lệ giải ngân tại địa phương mới đạt 38,49%; trong đó khoa học, công nghệ đạt 47,15%, đổi mới sáng tạo 27,54% và chuyển đổi số 30,23%. Chênh lệch giữa các địa phương cho thấy tiến độ không chỉ phụ thuộc vào quy định, mà còn nằm ở khâu chuẩn bị nhiệm vụ, năng lực tổ chức và mức độ quyết liệt khi thực hiện. Bộ đề nghị các địa phương nhận diện cả nguyên nhân khách quan lẫn chủ quan, chủ động ban hành quy trình thuộc thẩm quyền, cập nhật số liệu hằng tuần và phối hợp Kho bạc Nhà nước đối soát. Rà soát là cần thiết, nhưng không nên biến thành một vòng thủ tục mới khiến nguồn lực tiếp tục nằm chờ. Cơ quan quản lý cần tháo vướng cụ thể, còn đơn vị chủ trì phải chịu trách nhiệm với sản phẩm đã cam kết; cấp kinh phí tiếp theo nên dựa trên tiến độ và kết quả trong kỳ.
Với đổi mới sáng tạo, phân biệt rõ nhiệm vụ đặt hàng và cơ chế tài trợ có thể giúp ngân sách đến đúng nhu cầu: một bên giải quyết bài toán do Nhà nước, địa phương đặt ra; bên kia tiếp nhận sáng kiến từ doanh nghiệp và hỗ trợ đổi mới công nghệ. Đây là cách tổ chức nguồn lực hữu ích hơn việc áp một khuôn mẫu cho mọi nhiệm vụ.

Gắn tiền với đầu ra ngay từ khi đặt nhiệm vụ
Muốn tránh lặp lại tình trạng chi nhiều nhưng ít sản phẩm, tiêu chí ứng dụng phải được đặt ra từ lúc chọn nhiệm vụ, không đợi đến khâu nghiệm thu. Đến năm 2027, ít nhất 30% đề tài nghiên cứu được yêu cầu gắn với doanh nghiệp cụ thể, có hợp tác nghiên cứu và chia sẻ nguồn lực; tỷ lệ này dự kiến phấn đấu đạt ít nhất 50% trong giai đoạn tiếp theo. Mốc đó chỉ có giá trị nếu quan hệ doanh nghiệp được thể hiện bằng bài toán thực, hợp đồng và trách nhiệm sử dụng kết quả, thay vì chỉ có tên đối tác trong hồ sơ. Cơ chế cấp kinh phí theo tiến độ, quyền khai thác kết quả rõ ràng và đánh giá dựa trên sản phẩm có thể biến cam kết thành động lực. Đẩy nhanh giải ngân là việc cấp bách; bảo đảm mỗi khoản chi tạo ra kết quả nghiên cứu hữu ích mới là thước đo thành công.







