Giảm áp lực là cần thiết, nhưng chưa đủ
Tuyển sinh lớp 10 là quá trình phân bổ học sinh sau trung học cơ sở vào các trường trung học phổ thông, bằng thi tuyển, xét tuyển hoặc kết hợp hai phương thức theo điều kiện và khả năng tiếp nhận của từng địa phương. Ngày 23-10, Bộ Giáo dục và Đào tạo công bố dự thảo quy chế tiếp nhận học sinh đầu cấp để lấy ý kiến đến hết ngày 1-11, với định hướng giảm áp lực thi cử và mở rộng lựa chọn tuyển sinh. Đây là hướng đi đáng ủng hộ, nhưng giảm số môn không thể tự nó giải quyết cuộc cạnh tranh nếu số chỗ học công lập vẫn thiếu. Theo lãnh đạo Bộ, tỷ lệ học sinh sau lớp 9 vào lớp 10 đã tăng từ 75% lên trên 80%; tại một số địa phương, tỷ lệ này đạt 95%, thậm chí 97%. Những con số ấy cho thấy cơ hội đang mở rộng, nhưng không bảo đảm học sinh ở mọi khu vực đều có lựa chọn phù hợp.
Với địa phương vẫn tổ chức thi, dự thảo đề xuất hai môn thi lớp 10 không chuyên là Toán và Ngữ văn, thay cho ba môn theo quy định hiện hành. Phương án này có thể giảm thời gian ôn thi dồn dập và hạn chế việc học sinh chỉ chăm chăm vào môn được chọn làm môn thứ ba. Tuy vậy, thay đổi cấu trúc kỳ thi khi năm học đã diễn ra cũng khiến học sinh lớp 9 khó lập kế hoạch: có em chưa biết nên phân bổ thời gian ôn luyện ra sao. Vì thế, mục tiêu đúng không chỉ là thi ít môn hơn, mà là công bố phương án đủ sớm và bảo đảm học sinh không phải chạy theo tin đồn.

Xét tuyển chỉ công bằng khi luật chơi rõ ràng
Dự thảo đưa ra ba phương thức tuyển sinh lớp 10: xét tuyển, thi tuyển hoặc kết hợp cả hai; địa phương sẽ chọn theo quy mô học sinh, nhu cầu và khả năng tiếp nhận. Sự linh hoạt này hợp lý trên giấy, nhưng có thể tạo ra những chuẩn đánh giá rất khác nhau giữa các nơi. Nỗi lo của phụ huynh không phải là bảo vệ kỳ thi bằng mọi giá, mà là học bạ có thể phản ánh cả chênh lệch về môi trường học tập, cách kiểm tra và chấm điểm. Nếu chỉ dựa vào điểm học bạ mà thiếu cơ chế cân bằng, học sinh ở trường có điều kiện hạn chế có thể chịu thiệt thòi.
Muốn xét tuyển lớp 10 đáng tin, địa phương cần công khai tiêu chí, cách quy đổi kết quả và phạm vi tuyển sinh; quy định rõ trường nào tiếp nhận học sinh ở khu vực nào thay vì để cuộc đua tự do dồn về những trường được ưa chuộng. Thi tuyển cũng không mặc nhiên công bằng nếu chỗ học quá ít, nhưng ít nhất một kỳ thi chung có thể tạo thước đo thống nhất hơn học bạ giữa các trường. Phương án kết hợp chỉ có ý nghĩa khi hai phần được thiết kế minh bạch, tránh biến thành thêm một lớp tiêu chí khó hiểu. Trách nhiệm của ngành giáo dục là công bố cách phân bổ cơ hội trước khi học sinh bước vào giai đoạn quyết định, chứ không chỉ trao quyền lựa chọn phương thức cho địa phương.
Gốc rễ áp lực còn nằm ở chỗ hệ thống trường THPT công lập tại một số nơi chưa đáp ứng đủ nhu cầu, dù chủ trương phân luồng sau THCS đã được đặt ra trong thời gian dài. Nếu không tăng khả năng tiếp nhận và bảo đảm học sinh được lựa chọn hướng đi theo năng lực, việc giảm môn thi có nguy cơ chỉ làm thay đổi hình thức cạnh tranh. Phát triển thêm trường, tổ chức phân vùng hợp lý và củng cố các lựa chọn giáo dục nghề nghiệp phải song hành với cải cách tuyển sinh.
Vì sao không nên bỏ môn khi chờ phương án?
Khi dự thảo chưa thành quy định chính thức, học sinh nên giữ nhịp học và học đều các môn, thay vì tự loại bỏ những môn có thể không xuất hiện trong kỳ thi. Tập trung sớm vào hai môn dự kiến thi có thể làm hổng kiến thức và khiến các em bị động nếu phương án cuối cùng khác dự kiến. Học đầy đủ chương trình cũng giúp học sinh nhận biết năng lực, sở thích để lựa chọn môn học ở bậc THPT và cân nhắc hướng nghề nghiệp. Đây không phải lời khuyên học mọi thứ với cường độ như nhau, mà là giữ nền tảng cho đến khi quy chế và kế hoạch tuyển sinh được chốt.
Sự bất định có tác động cụ thể đến gia đình: một phụ huynh cho biết con đã học thêm Toán, Ngữ văn, tiếng Anh rồi tiếp tục đăng ký thêm khoa học tự nhiên vì chưa biết môn thứ ba sẽ được chọn thế nào; lịch học dày khiến việc đưa đón vất vả và làm giảm thời gian nghỉ ngơi. Trải nghiệm ấy cho thấy thông tin chính thức càng chậm, phụ huynh càng dễ phải chi phối kế hoạch của con bằng những dự đoán chưa chắc chắn. Bộ và địa phương cần sớm làm rõ phương thức, môn thi và tiêu chí áp dụng; trong lúc chờ đợi, học sinh nên duy trì thời khóa biểu ổn định, củng cố kiến thức toàn diện.

Cải cách phải mở thêm cơ hội, không chỉ bớt một bài thi
Dự thảo đang trong giai đoạn lấy ý kiến; góp ý từ thực tiễn sẽ là căn cứ để cơ quan quản lý hoàn thiện quy định, hướng tới giảm áp lực nhưng vẫn bảo đảm công bằng và quyền học tập. Tiêu chuẩn của một cải cách tốt vì vậy phải rộng hơn số môn thi: thông tin cần được công bố kịp thời, tiêu chí xét tuyển phải so sánh được, phân vùng tuyển sinh phải rõ, và năng lực trường lớp phải sát với nhu cầu địa phương. Nếu thiếu những điều kiện ấy, kỳ thi hai môn có thể nhẹ hơn nhưng nỗi lo không có chỗ học phù hợp vẫn còn nguyên.
Kết luận, giảm áp lực thi vào lớp 10 là hướng đi đúng, còn xét tuyển chỉ nên mở rộng khi có cơ chế kiểm soát chênh lệch giữa các trường và khu vực. Trong lúc chờ quyết định cuối cùng, học sinh không nên bỏ môn hay đánh cược kế hoạch học tập theo dự thảo. Công bằng tuyển sinh không nằm ở việc mọi nơi dùng cùng một hình thức, mà ở chỗ mỗi học sinh có cơ hội thực chất để tiếp tục học và được đánh giá bằng quy tắc rõ ràng.






