Đường đến bản xa cũng là đường đến sinh kế
Đường nông thôn vùng cao là hạ tầng kết nối các bản làng, khu sản xuất và dịch vụ thiết yếu qua địa hình miền núi bị chia cắt, giúp người dân đi lại, học tập và đưa sản phẩm ra thị trường thuận lợi hơn. Vì thế, giá trị của con đường không nằm ở lớp bê tông mà ở những cơ hội nó mở ra.
Ở Lai Châu, những tuyến đường mới vươn tới bản xa đã rút ngắn khoảng cách giữa cộng đồng vùng cao với trường học, nơi sản xuất và các hoạt động kinh tế. Tại Lao Chải, xã Khun Há, người dân cho biết đường thuận lợi hơn giúp bà con tham gia du lịch và phát triển kinh tế; tại bản, hợp tác xã trồng sâm cũng là một phần của bức tranh sinh kế đang mở rộng.
Đường bê tông Lai Châu vì vậy không nên được nhìn như một công trình hoàn thành rồi thôi. Nó tạo điều kiện để người dân tổ chức sản xuất, đón khách và tiếp cận dịch vụ dễ dàng hơn. Nhưng hạ tầng không tự bảo đảm thu nhập: muốn đường dẫn tới ấm no, đầu tư giao thông phải đi cùng hỗ trợ sản xuất và đầu ra ổn định.
Sức dân biến tuyến đường thành lựa chọn chung
Tại Lào Cai, sự đồng thuận hiện lên qua những phần đất và tài sản sản xuất người dân tự nguyện nhường lại. Ở xã Việt Hồng, gần 70 hộ hiến đất mở tuyến đường dài 3,8 km; có gia đình chặt bỏ hơn 400 cây quế đang cho thu hoạch để công trình được triển khai. Tại xã Xuân Quang, hơn 500 hộ góp khoảng 85.000 m² đất phục vụ xây dựng đường.
Đó là cái giá cụ thể của việc gỡ điểm nghẽn, không nên lãng mạn hóa thành sự hy sinh vô điều kiện. Người dân hiến đất làm đường khi họ tin lợi ích chung sẽ quay lại với gia đình: đi lại bớt vất vả, xe chở nông sản tiếp cận thuận lợi và kết nối với thị trường được cải thiện. Chính quyền cần bảo đảm công khai phương án, lắng nghe người chịu ảnh hưởng và phân bổ hỗ trợ công bằng.
Sức dân không thể thay thế trách nhiệm đầu tư công; ngược lại, ngân sách cũng khó mở đường hiệu quả nếu thiếu sự đồng thuận tại chỗ. Giai đoạn 2021–2025, người dân Lào Cai đóng góp khoảng 1.380 tỉ đồng cho giao thông nông thôn. Quy mô ấy cho thấy cộng đồng là một nguồn lực lớn, nhưng cũng đòi hỏi chính sách phải minh bạch và tương xứng.
Chính sách phải nối đường với hiệu quả lâu dài
Lai Châu cho thấy sự tham gia của người dân có thể bổ sung thiết thực cho đầu tư Nhà nước: trong quá trình xây dựng nông thôn mới, nhân dân đóng góp gần 8.000 ngày công và hiến 76.947 m² đất cho đường sá cùng các công trình cộng đồng. Kết quả sinh kế cũng đáng chú ý: tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân 3,9% mỗi năm, còn thu nhập bình quân khu vực nông thôn đạt 28,9 triệu đồng/người/năm. Đây là chuyển biến đáng ghi nhận, dù không thể quy toàn bộ cho riêng việc làm đường.
Nhu cầu đầu tư vẫn lớn ở cả hai tỉnh. Lào Cai có hơn 15.000 km đường giao thông nông thôn nhưng còn gần 4.000 km đường đất và đường cấp phối cần nâng cấp. Trong năm 2026, các địa phương đăng ký 651 công trình với tổng chiều dài 736 km. Tỉnh đặt mục tiêu đến năm 2030 kiên cố hóa ít nhất 2.500 km đường, nâng cấp ít nhất 350 km đường xã, liên xã và xây dựng ít nhất 100 cầu thay cầu treo, cầu tạm, ngầm tràn.
Ở Lai Châu, Kế hoạch số 5434/KH-UBND ban hành ngày 1/7/2026 định hướng phát triển giai đoạn 2026–2030, tầm nhìn đến năm 2035, gắn hạ tầng với sản xuất hàng hóa, thu nhập và giảm nghèo. Hướng đi đúng là để chính sách chịu trách nhiệm về chất lượng, nguồn lực và công bằng, còn cộng đồng tham gia lựa chọn ưu tiên, giám sát và khai thác con đường.
Đường tốt phải dẫn tới đời sống tốt hơn
Những con đường mới ở Lai Châu và Lào Cai cho thấy kết nối vùng cao được tạo nên bằng cả nguồn lực Nhà nước lẫn niềm tin, công sức và phần đất người dân góp vào. Khi đường rộng hơn, việc đi lại và vận chuyển nông sản có thể thuận lợi hơn; khi gắn với du lịch, vùng nguyên liệu và dịch vụ, lợi ích mới lan tới sinh kế.
Tuy nhiên, số kilômét được xây dựng không nên là thước đo duy nhất. Một chương trình làm đường có trách nhiệm cần tính đến bảo trì, an toàn trước sạt lở, khả năng tiếp cận của các bản khó khăn và cách bù đắp hợp lý cho hộ nhường đất, cây trồng. Nếu những điều đó bị bỏ qua, sự đồng thuận hôm nay có thể không bền.
Bài học cốt lõi không phải là trông chờ người dân hy sinh thêm, mà là kết hợp sức dân với chính sách công bằng và sinh kế thực chất. Đường bê tông chỉ mở lối ấm no khi cộng đồng có tiếng nói trong quyết định, Nhà nước bảo đảm công trình tốt, còn cơ hội làm ăn được nối tiếp sau ngày khánh thành.






