Công nghệ phải tạo ra giá trị ngoài phòng nghiên cứu
Khoa học công nghệ trong nông nghiệp là việc phát triển và ứng dụng tri thức, kỹ thuật và công cụ số để giải quyết nhu cầu sản xuất, kinh doanh, nâng năng suất và tạo giá trị thiết thực cho người làm nông. Đây phải là động lực trực tiếp của tăng trưởng nông nghiệp, chứ không phải một chuỗi đề tài tách rời khỏi đồng ruộng và thị trường.
Thông điệp này được Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng nhấn mạnh tại hội nghị khu vực miền Bắc do Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp Bộ Công an tổ chức ngày 27/10, rồi tiếp tục được nêu tại hội nghị khu vực phía nam ở Cần Thơ sáng 2/11. Ông yêu cầu nghiên cứu và ứng dụng phải xuất phát từ thực tiễn sản xuất, kinh doanh, lấy năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng và thu nhập của người dân làm thước đo.
Đây là cách đặt đúng trọng tâm. Một công nghệ chỉ có ý nghĩa khi người sản xuất có thể áp dụng, doanh nghiệp có thể đưa vào chuỗi cung ứng và thị trường ghi nhận sản phẩm tốt hơn. Nếu không, số lượng nghiên cứu hay thiết bị được triển khai sẽ không tự chuyển thành hiệu quả kinh tế.
Khoảng cách từ nghiên cứu đến sản xuất vẫn lớn
Nông nghiệp đã cho thấy công nghệ có thể tạo kết quả rõ ràng: giống lúa mới, công nghệ sinh học, cơ giới hóa và quy trình canh tác tiên tiến góp phần nâng năng suất khoảng 9,9%, tăng sản lượng ước 2,4 triệu tấn mỗi năm. Nhưng những thành quả này chưa xóa được khoảng cách giữa nghiên cứu và ứng dụng. Trong 451 sản phẩm khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo thuộc lĩnh vực nông nghiệp được thống kê, 341 sản phẩm vẫn ở giai đoạn nghiên cứu; tỷ lệ đã ứng dụng hoặc thương mại hóa mới khoảng 24%.
Nguyên nhân không chỉ nằm ở khâu chuyển giao. Sản xuất nhỏ lẻ, phân tán khiến công nghệ khó nhân rộng; nghiên cứu và nguồn lực đầu tư còn dàn trải; giống, công nghệ đầu vào, bảo quản và chế biến sâu còn hạn chế. Dữ liệu chưa liên thông và nhân lực số yếu cũng cản trở quản lý sản xuất. Khi nhiệm vụ nghiên cứu không gắn với nhu cầu tăng trưởng và thị trường, kết quả dễ dừng ở báo cáo thay vì tạo lợi ích cho nông dân.
Vì vậy, đổi mới sáng tạo cần chuyển từ cách làm theo từng đề tài riêng lẻ sang giải quyết bài toán cụ thể của ngành hàng, chuỗi giá trị và từng địa phương. Công nghệ nông nghiệp phải phù hợp với điều kiện sinh thái, năng lực tổ chức sản xuất và đầu ra của sản phẩm.

Lợi ích phải hiện rõ trong chi phí và năng suất
Các mô hình canh tác được giới thiệu tại Cần Thơ cho thấy công nghệ có thể đem lại lợi ích trực tiếp: giảm trên 30% lượng phân đạm, giảm lượng giống gieo sạ xuống khoảng 60 kg/ha, bớt 2-3 lần phun thuốc bảo vệ thực vật, đồng thời tăng năng suất 0,3-0,7 tấn/ha và lợi nhuận tối thiểu 20% so với cách làm truyền thống. Đây là những kết quả mà người sản xuất có thể đối chiếu trên ruộng, không phải lời hứa chung chung về hiện đại hóa.
Ứng dụng cảm biến, công cụ quản lý canh tác, tưới ngập khô xen kẽ, nhật ký điện tử và bản đồ số chỉ phát huy tác dụng khi được hướng dẫn, duy trì và kết nối với tổ chức sản xuất. Nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp cần cùng tham gia từ khâu xác định nhu cầu đến triển khai và tiêu thụ. Nếu thiếu liên kết, người sản xuất có thể phải tự gánh công nghệ mà không nhận được phần giá trị tăng thêm.
Trong sản xuất lúa gạo theo chuỗi giá trị bền vững, ứng dụng khoa học, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số có thể giảm 10-15% chi phí đầu vào cho nông dân, đồng thời nâng giá trị sản phẩm nhờ truy xuất nguồn gốc và đáp ứng tiêu chuẩn thị trường cao cấp.

Chuyển đổi số cần phục vụ điều hành và truy xuất
Chuyển đổi số nông nghiệp không thể chỉ là đưa thêm phần mềm vào quy trình vốn đã rời rạc. Dữ liệu ngành hiện chưa đồng bộ, chưa đáp ứng tốt yêu cầu điều hành sản xuất theo thời gian thực; vì thế, ưu tiên cần là kết nối dữ liệu hữu ích cho nông dân, doanh nghiệp và cơ quan quản lý. Truy xuất nguồn gốc phải được chuẩn hóa, dữ liệu đất đai và thông tin phục vụ giám sát sản xuất cần được chia sẻ, khai thác hiệu quả.
Cùng với hạ tầng số, ngành cần tập trung vào công nghệ chiến lược như giống thế hệ mới, công nghệ gen và tế bào, vaccine thú y, chế phẩm sinh học và hệ thống truy xuất nguồn gốc. Lựa chọn đầu tư nên dựa trên vấn đề cần giải quyết và khả năng áp dụng, thay vì chạy theo công nghệ mới chỉ vì tính hiện đại.
Bước tiếp theo đã được xác định: Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp các bộ, ngành, địa phương rà soát hiện trạng, chọn những bài toán cấp thiết tác động trực tiếp đến tăng trưởng và năng lực cạnh tranh, rồi nhân rộng mô hình hiệu quả dựa trên kết quả thực tế. Đây là hướng đi hợp lý, miễn là tiến độ, trách nhiệm và đầu ra được theo dõi đến cùng.
Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số chỉ trở thành động lực tăng trưởng nông nghiệp khi tạo ra nông sản có năng suất, chất lượng và giá trị cao hơn, đồng thời giảm chi phí, kiểm soát phát thải và cải thiện thu nhập. Thước đo cuối cùng không phải số nhiệm vụ nghiên cứu đã khởi động, mà là hiệu quả bền vững trên đồng ruộng và trong chuỗi kinh doanh.






