Tỷ lệ cao trong nhóm vi phạm, không phải toàn cộng đồng
Quá hạn visa du học là tình trạng người nước ngoài tiếp tục lưu trú tại Hàn Quốc sau khi thị thực hết hiệu lực, thay vì rời đi hoặc hoàn tất thủ tục chuyển đổi diện cư trú đúng quy định. Số liệu mới nhất cho thấy người Việt chiếm tỷ trọng lớn nhất trong nhóm vi phạm ở cả diện học tiếng lẫn cao đẳng, đại học và sau đại học; đây là tín hiệu cần lưu ý, nhưng không thể dùng để đánh giá mọi du học sinh Việt.
Theo dữ liệu Bộ Tư pháp Hàn Quốc được công bố, đến tháng 8, số người nước ngoài ở lại sau khi hết hạn visa D-2 vượt 9.900. Trong nhóm này, hơn 6.800 người là công dân Việt Nam, chiếm hơn 68% và gần gấp năm lần nhóm Uzbekistan đứng thứ hai. Con số này mô tả cơ cấu những người quá hạn, không phải tỷ lệ vi phạm trong toàn bộ sinh viên Việt theo học các chương trình D-2.
Sự phân biệt ấy quan trọng trong bối cảnh du học Hàn Quốc ngày càng phổ biến: đến tháng 9-2026, nước này có gần 367.700 sinh viên quốc tế, tăng hơn 16% so với cùng kỳ năm trước. Du học sinh Việt là nhóm đông nhất, với hơn 129.200 người, tương đương khoảng 35% tổng số. Quy mô lớn khiến số trường hợp tuyệt đối có thể cao, nhưng không làm cho hành vi quá hạn trở thành đại diện cho cả cộng đồng.

Hệ học tiếng chiếm tỷ trọng áp đảo trong nhóm quá hạn
Chênh lệch nổi bật hơn ở các diện visa học tiếng D-4-1 và D-4-7. Có hơn 19.400 người Việt được ghi nhận ở lại quá hạn, chiếm 89,4% tổng số trường hợp quá hạn thuộc nhóm này. Nói cách khác, gần chín trong mười người quá hạn visa học tiếng được thống kê là người Việt; đây là tỷ trọng trong nhóm vi phạm, không phải gần chín trong mười du học sinh Việt học tiếng đều vi phạm.
Một chỉ số khác cần tách riêng là tỷ lệ vi phạm trong chính nhóm sinh viên Việt học tiếng: khoảng 40% bị xác định lưu trú quá hạn, tăng gần 6% so với năm trước. Bài toán vì thế không chỉ nằm ở số lượng du học sinh đông, mà còn ở mức độ dễ tổn thương của người học khi thời hạn cư trú, điều kiện học tập và kế hoạch việc làm không khớp nhau.
Hai con số 89,4% và khoảng 40% trả lời hai câu hỏi khác nhau. Con số đầu cho biết người Việt chiếm bao nhiêu trong toàn bộ nhóm quá hạn diện học tiếng; con số sau phản ánh khoảng bao nhiêu du học sinh Việt thuộc diện đó bị xác định vi phạm. Trộn lẫn chúng sẽ tạo ấn tượng sai và dễ biến thống kê quản lý thành kết luận thiếu công bằng về cả cộng đồng.

Áp lực việc làm không xóa nghĩa vụ tuân thủ visa
Một phần bối cảnh là cơ hội việc làm sau tốt nghiệp chưa theo kịp đà tăng sinh viên quốc tế. Nhiều người gặp khó khi chuyển từ visa du học sang visa lao động vì yêu cầu về chuyên môn, tiếng Hàn và giấy tờ; có trường hợp làm việc không phép hoặc tiếp tục ở lại sau ngày hết hạn. Áp lực đó giúp giải thích vì sao vấn đề nảy sinh, nhưng không biến việc lưu trú trái phép thành lựa chọn an toàn hay hợp lệ.
Với người đang chuẩn bị du học Hàn Quốc, visa du học Hàn Quốc cần được xem như một điều kiện phải duy trì xuyên suốt, chứ không chỉ là thủ tục nhập cảnh ban đầu. Cần theo dõi ngày hết hạn, điều kiện học tập và giới hạn làm thêm; nếu muốn đổi chương trình, tìm việc hoặc chuyển diện cư trú, hãy hỏi cơ quan xuất nhập cảnh hay bộ phận hỗ trợ sinh viên của trường trước khi thực hiện. Không nên mặc định rằng đã nộp hồ sơ là được phép ở lại hoặc làm việc.
Hệ quả được nêu đối với người quá hạn gồm phạt tiền, trục xuất và cấm nhập cảnh lại. Vì vậy, xử lý sớm khi gặp khó khăn về học tập, tài chính hay thủ tục có ý nghĩa thiết thực hơn việc chờ đến khi visa hết hiệu lực. Tuân thủ không bảo đảm mọi kế hoạch học tập hay nghề nghiệp sẽ thuận lợi, nhưng giúp tránh biến một trở ngại có thể giải quyết thành rủi ro cư trú nghiêm trọng.
Cải cách có thể mở đường, nhưng chưa thay thế việc chuẩn bị
Ngày 7-10, Bộ Tư pháp Hàn Quốc công bố các đề xuất cải cách thị thực nhằm hỗ trợ sinh viên quốc tế học tập, tìm việc và cư trú dài hạn. Trong đó có phương án đơn giản hóa một số thủ tục, mở rộng cơ hội chuyển từ diện du học sang diện lao động và nới lộ trình cho người tốt nghiệp ngành khoa học, kỹ thuật. Đây là đề xuất chính sách, không nên hiểu là quyền lợi đã tự động có hiệu lực cho mọi sinh viên.
Các kế hoạch còn bao gồm phân loại thời gian lưu trú diện D-10 dành cho người tìm việc sau tốt nghiệp từ một đến ba năm, tùy năng lực tiếng Hàn và mức độ sẵn sàng làm việc, cùng dự kiến triển khai K-Tech Master Visa cho người tốt nghiệp một số chương trình thạc sĩ kỹ thuật chuyên ngành. Những thay đổi này có thể thu hẹp khoảng cách giữa học tập và việc làm, nhưng không xóa bỏ yêu cầu đáp ứng điều kiện của từng loại visa.
Kết luận đáng rút ra không phải là gắn nhãn du học sinh Việt, mà là nhìn thẳng vào một nhóm quá hạn có tỷ trọng người Việt đặc biệt cao và những lỗ hổng trong lộ trình từ học đến việc. Người dự định du học cần kiểm tra kỹ điều kiện cư trú, chủ động hỏi về chuyển đổi visa và không làm việc vượt quyền được phép. Còn cải cách chỉ có ý nghĩa khi được triển khai rõ ràng, đủ sớm để sinh viên chọn con đường hợp pháp trước khi thị thực hết hạn.






